Áp dụng một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để thiết kế hoạt động khởi động trong các bài dạy hình học 10 nhằm tăng cường hứng thú cho học sinh
Bạn đang xem tài liệu "Áp dụng một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để thiết kế hoạt động khởi động trong các bài dạy hình học 10 nhằm tăng cường hứng thú cho học sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
ap_dung_mot_so_phuong_phap_va_ky_thuat_day_hoc_tich_cuc_de_t.doc
Nội dung tài liệu: Áp dụng một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để thiết kế hoạt động khởi động trong các bài dạy hình học 10 nhằm tăng cường hứng thú cho học sinh
- 1 CỘNG HÒA XÃ HỘ CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Áp dụng một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để thiết kế hoạt động khởi động trong các bài dạy hình học 10 nhằm tăng cường hứng thú cho học sinh”. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Thời gian áp dụng sáng kiến này được bắt đầu từ tháng 09 năm 2023. 3. Các thông tin cần được bảo mật: Không. 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: 4.1. Hình thức khởi động cũ đối với các chủ đề Hình học 10 Với trải nghiệm thực tiễn gần 20 năm dạy học, thông qua dự giờ đồng nghiệp; tôi nhận thấy giáo viên thường mở bài (hoặc thiết kế hoạt động khởi động) đầu mỗi bài học (chủ đề) như sau: - Với các bài học (chủ đề) có nội dung kiến thức mới: Sau khi ổn định lớp học, kiểm tra bài cũ xong, giáo viên định hướng bài học mới bằng một vài câu dẫn dắt, chuyển ý hoặc kết nối kiến thức cũ với kiến thức mới bằng kiến thức nội hàm Toán học. Ví dụ 1: Với bài Hệ thức lượng trong tam giác, sau khi ổn định lớp học, giáo viên kiểm tra bài cũ bằng cách yêu cầu học sinh nêu lại các hệ thức lượng trong tam giác vuông; tiếp theo giáo viên nêu vấn đề: Nếu tam giác không vuông thì sẽ có những hệ thức nào liên hệ giữa các yếu tố trong tam giác (cạnh và góc) hay tính diện tích tam giác bằng những công thức nào? công thức tính độ dài đường trung truyến của tam giác ra sao? Chúng ta nghiên cứu bài học hôm nay. Hoặc cách khác để vào bài này: Giáo viên yêu cầu học sinh phát biểu định lý Pitago trong tam giác ABC vuông tại A , sau đó nhấn mạnh nếu góc A 90o thì
- 2 tính cạnh BC được không, nếu biết độ dài hai cạnh AB và AC ? Ví dụ 2: Với bài Phương trình đường tròn, sau khi ổn định lớp học, kiểm tra bài cũ (nếu có) xong, giáo viên nêu vấn đề: Mọi điểm M x; y nằm trên đường tròn tâm I a;b , bán kính R đều có x, y thỏa mãn điều kiện nào? Giáo viên gọi đại diện học sinh đứng tại chỗ trả lời; Học sinh phát biểu được điểm M nằm trên đường tròn khi IM R x – a 2 y – b 2 R2 . Điều kiện này được gọi là phương trình đường tròn tâm I a;b , bán kính R . Vậy cách viết phương trình đường tròn ra sao, các dạng bài tập liên quan đến phương trình đường tròn như thế nào, sau đây chúng ta cùng tìm hiểu bài học. Ví dụ 3: Với bài Phương trình Elip, sau khi ổn định lớp học, kiểm tra bài cũ xong, giáo viên dẫn dắt vào bài mới: Trong các tiết học trước, chúng ta đã sử dụng giải tích để nghiên cứu các đối tượng đường thẳng, đường tròn. Trong tiết này, chúng ta sử dụng phương pháp tọa độ vào một đối tượng mới. Vậy đối tượng đó tên là gì? Chúng được tạo ra như thế nào? Phương trình của nó ra sao, sau đây chúng ta cùng tìm hiểu bài học. - Với các bài học (chủ đề) ôn tập chương, đa số giáo viên kiểm tra bài cũ học sinh hoặc khởi động bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng viết (hoặc học sinh đứng tại chỗ phát biểu, giáo viên viết), hệ thống lại các kiến thức cơ bản (các công thức) của chương. - Với các bài học (chủ đề) ôn tập học kỳ và ôn tập cuối năm, giáo viên kiểm tra bài cũ học sinh hoặc khởi động bằng cách chia nhóm học sinh, yêu cầu mỗi nhóm hệ thống lại các kiến thức cơ bản (các công thức) của một chương (các nhóm khác nhau, hệ thống kiến thức của chương khác nhau). Sau đó giáo viên tổng hợp, tóm tắt kiến thức và viết lên bảng. Như vậy, với một số hình thức khởi động hay mở bài như trên sẽ tạo cho học sinh cảm giác nặng nề đầu mỗi tiết học. Các em cảm thấy cứ bắt đầu mỗi tiết học Toán sẽ chỉ là những kiến thức Toán. Học sinh không thấy được Toán học có liên hệ gì với thực tiễn cuộc sống, không hiểu được học Toán để làm gì, học bài đó để ứng dụng gì hay giải quyết vấn đề gì trong thực tiễn. Các em
- 3 không thấy hứng thú, không có động lực để nghiên cứu vấn đề mới mà giáo viên đưa ra. Đặc biệt là các cách thiết kế trên chưa có sự đổi mới về phương pháp dạy học cũng như đổi mới về kiểm tra đánh giá học sinh. 4.2. Thực trạng của vấn đề 1. Tồn tại, hạn chế 1.1. Về phía giáo viên Đa số giáo viên trong quá trình dạy học thường không tổ chức hoạt động khởi động hoặc có tổ chức nhưng chưa thật hiệu quả. Vì vậy, trong quá trình dạy, dù rất cố gắng, nhiều giáo viên cũng không thể lôi kéo sự tập trung của học sinh, hiệu quả giờ học không cao. 1.2. Về phía học sinh Trong một lớp học khả năng tiếp thu của mỗi em học sinh là khác nhau cho nên hứng thú của mỗi em trong mỗi giờ học cũng sẽ khác. Có học sinh hào hứng đón nhận giờ Toán học, các em tìm thấy ở giờ học những kiến thức cần thiết và bổ ích để áp dụng vào các môn học khác cũng như áp dụng vào thực tiễn cuộc sống. Bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều học sinh có thói quen thụ động trong học tập, các em không thích học, không hứng thú, ngại suy nghĩ, không quan tâm nhiều đến hành trình tự khám kiến thức. Nhiều học sinh còn có biểu hiện uể oải, mệt mỏi trong giờ học. Thói quen lười vận động, lười tư duy, học tập hời hợt, không hứng thú đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập. Trong suy nghĩ của học sinh, bắt đầu giờ học thường là thầy (cô) sẽ kiểm tra bài cũ và cho điểm nên gây áp lực cho các em, làm cho các em lo lắng và căng thẳng trong những khoảng thời gian đầu tiết học. 2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 2.1. Về phía giáo viên Chương trình môn Toán học THPT hiện tại tương đối dài, nặng kiến thức. Giáo viên còn gặp khó khăn trong việc xây dựng phân phối chương trình, phân phối thời gian cho phù hợp để dành nhiều thời gian cho hoạt động khởi động. Chương trình kiểm tra, thi hiện nay còn phân bổ số điểm tương đối nhiều
- 4 cho việc ghi nhớ và kỹ năng biến đổi, tính toán; ít có câu hỏi hướng vào toán ứng dụng thực tiễn cuộc sống. Do đó giáo viên khi dạy còn áp lực nhiều về việc cung cấp đủ kiến thức cho học sinh, để học sinh có đủ kiến thức cơ bản đáp ứng cho việc kiểm tra kiến thức thường xuyên và định kì. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh là phương pháp dạy học đã được nói đến nhiều trong vài năm trở lại đây, tuy nhiên hiện nay để có được những tiết học thực sự đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh để giáo viên có thể tham khảo và học hỏi còn hạn chế; giáo viên chủ yếu dựa vào kiến thức và kỹ năng vốn có của bản thân kết hợp với nghiên cứu lý thuyết, dự giờ đồng nghiệp nên việc đổi mới của giáo viên trong hoạt động dạy học, đặc biệt là trong việc xây dựng các tình huống khởi động còn hạn chế. Một số giáo viên chưa chủ động trong việc học hỏi, tiếp thu phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để vận dụng trong quá trình dạy học. Tâm lý giáo viên còn nặng về truyền thụ kiến thức bài học mới, còn sợ dành nhiều thời gian cho hoạt động khởi động có thể bị “cháy giáo án” hoặc không đủ thời gian dành cho việc khai thác kiến thức mới. Việc ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên trong một số tình huống chưa tốt nên còn ngại trong việc đổi mới phương pháp dạy học và thiết kế giáo án theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động khởi động. 2.2. Về phía học sinh Do đặc điểm của trường điểm tuyển sinh đầu vào thấp, khả năng nhận thức của học sinh ở các môn tự nhiên chưa cao, đặc biệt là môn Toán. Bởi vậy nên khi giáo viên tổ chức hoạt động khởi động cho học sinh, nếu không sử dụng phương pháp và kỹ thuật phù hợp sẽ gây mất thời gian, làm ảnh hưởng đến thời gian của các hoạt động khác trong bài dạy. Nhiều học sinh có tâm lý học lệch, thiên về một số môn khoa học xã hội nên ở các môn khoa học tự nhiên còn lại chưa có sự đầu tư, chưa quan tâm chuẩn bị bài chưa chu đáo, dẫn đến tiết học còn thụ động.
- 5 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến. Hoạt động khởi động rất cần thiết trong dạy học nhằm gây hứng thú, khơi gợi sự tò mò cần nghiên cứu vấn đề mới cho học sinh. Hoạt động này cần tạo ra những tình huống, những vấn đề ở đó người học cần được huy động tất cả các kiến thức hiện có, những kinh nghiệm, vốn sống của mình để cố gắng nhìn nhận và giải quyết theo cách riêng của mình và cảm thấy thiếu hụt kiến thức, thông tin để giải quyết. Bên cạnh đó, hoạt động khởi động còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đó là gợi động cơ cho bài học mới. Gợi động cơ là một trong những khâu quan trọng của quá trình dạy học nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh, làm cho việc học tập trở nên tự giác, tích cực, chủ động. Gợi động cơ không phải là việc đặt vấn đề một cách hình thức mà phải giúp biến những mục tiêu sư phạm thành mục tiêu của cá nhân học sinh nhằm tạo ra động lực bên trong thúc đẩy học sinh hoạt động. Kinh nghiệm cho thấy không có động lực nào thúc đẩy mạnh mẽ động cơ học tập của học sinh bằng các tình huống thực tế. Rõ ràng cách gợi động cơ này dễ hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, tạo điều kiện để các em thực hiện tốt các hoạt động kiến tạo tri thức trong quá trình học tập về sau. Như vậy, hoạt động khởi động là một hoạt động học tập, nhiệm vụ chuyển giao của giáo viên phải rõ ràng, học sinh phải được bày tỏ ý kiến riêng của mình cũng như ý kiến của nhóm về vấn đề đó cũng như việc trình bày báo cáo kết quả. Các bài toán đưa vào phải nhẹ nhàng, tự nhiên tránh làm rối tiết học và không làm ảnh hưởng đến thời gian giảng dạy của bài đó. Từ những quan điểm trên giúp tôi đưa ra sáng kiến với tên gọi “Áp dụng một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để thiết kế hoạt động khởi động trong các bài dạy hình học 10 nhằm tăng cường hứng thú cho học sinh”. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến: Sáng kiến nhằm giúp học sinh huy động những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân về các tình huống, câu hỏi có nội dung liên quan đến bài học mới.
- 6 Sáng kiến còn góp phần rèn luyện tính linh hoạt và cho học sinh một cách nhìn, một tư duy động trong quá trình khám phá và lĩnh hội tri thức toán học, mở đường cho sự phát triển năng lực sáng tạo và ứng dụng của các em. Ngoài ra, sáng kiến cũng là nguồn tư liệu hữu ích cho giáo viên, giúp các thầy cô có thêm kinh nghiệm trong việc giảng dạy. Đáp ứng được việc tổ chức dạy học đạt kết quả cao. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến. Tên giải pháp: “Áp dụng một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để thiết kế hoạt động khởi động trong các bài dạy hình học 10 nhằm tăng cường hứng thú cho học sinh”. Xác định mục tiêu khởi động: Việc thay đổi hình thức khởi động từ việc chỉ dùng một vài câu để dẫn dắt vào bài thay bằng việc tổ chức khởi động thành một hoạt động để hc sinh được tham gia trực tiếp gải quyết vấn đề khởi động. Hoạt động khởi động phải xác định rõ mục tiêu, thời gian hoạt động và sản phẩm hoạt động; phương pháp và kỹ thuật tổ chức; cách thức tiến hành; chuyển giao nhiệm vụ cho hc sinh một cách rõ ràng. Nhiệm vụ khi chuyển giao cho hc sinh trong hoạt động khởi động cần kiểm kê lại kiến thức của hc sinh (xem học sinh đã có được kiến thức gì liên quan đến bài học), tạo hứng thú cho HS, tạo ra tình huống có vấn đề để dẫn dắt hc sinh vào phần hình thành kiến thức mới. Để tổ chức hiệu quả hoạt động khởi động, giáo viên tránh: Cho học sinh hoạt động trò chơi, múa hát không ăn nhập với bài học; lựa chọn các tình huống không đắt giá dẫn đến các em có thể trả lời được một cách dễ dàng với các câu hỏi đặt vấn đề đơn giản; thời gian cho hoạt động này quá ít vì chưa coi đó là một hoạt động học tập; chưa cho các em suy nghĩ, bày tỏ ý kiến của mình; cố gắng giảng giải, chốt kiến thức ngay ở hoạt động này Với phạm vi, giới hạn của sáng kiến, tác giả xin đề xuất thiết kế, biên soạn hoạt động khởi động của một số chủ đề trong chương trình Hình học lớp
- 7 10. Tổ chức khởi động thành một hoạt động dạy học; có xác định rõ mục tiêu hoạt động, nội dung hoạt động, sản phẩm (dự kiến) của học sinh, cách thức tổ chức hoạt động cũng như các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để tổ chức hoạt động. Nội dung và các bước tiến hành thực hiện giải pháp: 1. Chủ đề Tích vô hướng của hai véc tơ a) Mục tiêu: Học sinh kết nối được mô hình thực tế và đề xuất khái niệm tích vô hướng của hai vectơ b) Nội dung: Học sinh quan sát hình ảnh thực tế để dự đoán kết quả của việc lấy tích của 2 vectơ. c) Sản phẩm: Học sinh trả lời các câu hỏi của giáo viên.Dự đoán được Tích vô hướng của hai vectơ là một số. d) Tổ chức hoạt động: Phương pháp dạy học: Dạy học giải quyết vấn đề. * Chuyển giao nhiệm vụ: Giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh dưới đây (Người đàn ông dùng lực kéo chiếc xe tải về phía trước) Khi đó, lực F đã sinh ra một công A được tính theo công thức nào ? Giáo viên (có thể) gợi ý: Trong Vật lý, giả sử một lực không đổi F tác dụng lên một vật làm cho nó di chuyển từ A đến B.
- 8 Khi đó, lực F đã sinh ra một công A được tính theo công thức nào ? (giáo viên gợi ý bằng hình ảnh bên dưới) * Thực hiện nhiệm vụ: Cá nhân mỗi học sinh suy nghĩ về câu hỏi của giáo viên trong thời gian 2 phút. * Báo cáo, thảo luận: Học sinh trả lời: Công A được tính theo công thức A F . AB .cos Học sinh khác nhận xét, bổ sung để hoàn thiện câu trả lời. * Đánh giá, nhận xét, tổng hợp: Giáo viên nhận xét câu trả lời của học sinh và giới thiệu khái niệm “Công sinh bởi một lực” Giáo viên: Trong toán học giá trị A của biểu thức trên (không kể đơn vị đo) được gọi là tích vô hướng của hai véctơ F và AB . Ví dụ trên là một ứng dụng về phép tính tích của hai véctơ. Vậy tích vô hướng của hai vectơ a và b được định nghĩa như thế nào? 2. Chủ đề Hệ thức lượng trong tam giác và giải tam giác a) Mục tiêu: Ôn tập các công thức hệ thức lượng trong tam giác vuông đã biết và khám phá, tìm hiểu cách đo khoảng cách từ hai điểm bất kỳ mà ta không đo trực tiếp được. b) Nội dung: Giáo viên hướng dẫn, tổ chức ôn tập, tìm tòi các kiến thức liên quan bài học đã biết thông qua 02 câu hỏi: Câu 1: Nêu các hệ thức về cạnh và đường cao trong tam giác vuông ABCvuông tại A ?
- 9 Câu 2: Nêu các tỷ số lượng giác của góc nhọn trong tam giác vuông ABCvuông tại A ? c) Sản phẩm: Câu trả lời của học sinh Câu 1: a 2 b 2 c 2 b 2 a .b ' c 2 a . c ' h 2 b ' . c ' a . h b . c 1 1 1 h 2 a 2 b 2 Câu 2: b c sin B cos C ;sin C cos B a a b c tan B cot C ;cot B tan C . c b d) Tổ chức thực hiện: Phương pháp dạy học: Dạy học hợp tác; Kỹ thuật dạy học: Kỹ thuật khăn trải bàn. * Chuyển giao nhiệm vụ : Giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm chuẩn bị trong thời gian 5 phút ( Học sinh làm việc cá nhân, nêu ra các hệ thức nhớ được trong 2 phút; nhóm trưởng tổng hợp, ghi ra ô giữa của tờ giấy trong thời gian 3 phút). Nhóm 1 và nhóm 3: Nêu các hệ thức về cạnh và đường cao trong tam giác vuông ABC vuông tại A ?
- 10 Nhóm 2 và nhóm 4: Nêu các tỷ số lượng giác của góc nhọn trong tam giác vuông ABC vuông tại A ? * Thực hiện nhiệm vụ: Các nhóm học sinh thực hiện nhiệm vụ giáo viên giao. * Báo cáo, thảo luận: - Giáo viên gọi đại diện 2 nhóm (với 2 nội dung khác nhau) lên bảng trình bày câu trả lời của nhóm mình trong 2 phút; - Các học sinh khác nhận xét, bổ sung để hoàn thiện câu trả lời. * Đánh giá, nhận xét, tổng hợp: - Giáo viên đánh giá thái độ làm việc, phương án trả lời của từng nhóm học sinh, ghi nhận và tổng hợp kết quả. - Dẫn dắt vào bài mới. Đặt vấn đề: - Làm thế nào để tìm được bán kính chiếc đĩa cổ đã bị vỡ để phục chế được chiếc đĩa? - Làm thế nào để tính khoảng cách từ cù lao giữa sông đến bờ sông.
- 11 3. Chủ đề Ôn tập chương IV a) Mục tiêu: Ôn tập, hệ thống lại kiến thức, các công thức đã học của chương. b) Nội dung: Giáo viên hướng dẫn, tổ chức học sinh ôn tập, tìm tòi các kiến thức liên quan bài học đã biết thông qua các câu hỏi sau: Câu 1: Nêu các công thức về giá trị lượng giác của góc bất kỳ từ 0 o đến 180o ? Câu 2: Nêu cách xác định góc giữa 2 véctơ? Cho ví dụ minh họa. Câu 3: Nêu biểu thức tính tích vô hướng hai véctơ và những ứng dụng của tích vô hướng? Câu 4: Nêu công thức của định lý cosin; định lý sin; các công thức diện tích tam giác? c) Sản phẩm: Câu trả lời của Học sinh cho các câu hỏi 1; 2; 3; 4 thông qua thảo luận nhóm và trình bày bằng bảng phụ hoặc trò chơi. d) Tổ chức thực hiện: Phương pháp dạy học: Dạy học hợp tác; Kỹ thuật dạy học: Kỹ thuật khăn trải bàn kết hợp kỹ thuật phòng tranh. *) Chuyển giao nhiệm vụ : giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm chuẩn bị trong thời gian 7 phút (Học sinh làm việc cá nhân, nêu ra các hệ thức nhớ được trong 3p; nhóm trưởng tổng hợp, ghi ra ô giữa của tờ giấy trong thời gian 4 phút). Nhóm 1 thực hiện câu hỏi 1; nhóm 2 thực hiện câu hỏi 2; Nhóm 3 thực hiện câu hỏi 3; nhóm 4 thực hiện câu hỏi 4;
- 12 *) Thực hiện: Các nhóm học sinh thực hiện nhiệm vụ giáo viên giao. *) Báo cáo, thảo luận: - Các nhóm trưng bày sản phẩm của mình bằng cách dán trên bảng và dán ở hai bên lớp học, các nhóm khác quan sát và nhận xét. *) Đánh giá, nhận xét, tổng hợp: - Giáo viên đánh giá thái độ làm việc, phương án trả lời của học sinh, ghi nhận và tổng hợp kết quả. - Dẫn dắt vào nội dung bài học. 4. Chủ đề Phương trình đường tròn a) Mục tiêu: - Tạo sự tò mò, gây hứng thú cho học sinh khi tìm hiểu về “Phương trình đường tròn”. - Học sinh nhớ lại các kiến thức cơ bản về đường tròn. b) Nội dung: Câu hỏi 1: Các hình ảnh dưới đây gợi cho em nhớ đến một khái niệm hình học nào? Câu hỏi 2: Nêu các cách xác định đường tròn? Câu hỏi 3: Nêu phương trình tham số và phương trình tổng quát của đường thẳng? c) Sản phẩm: - Khái niệm đường tròn. - Cách 1: Tâm và bán kính; Cách 2: Tâm và đường kính của đường tròn. - Phương trình tham số và phương trình tổng quát của đường thẳng.
- 13 d) Tổ chức thực hiện: Phương pháp dạy học: Dạy học hợp tác kết hợp dạy học khám phá Kỹ thuật: Tia chớp * Chuyển giao nhiệm vụ: - Giáo viên chia lớp thành 4 đội chơi. - Giáo viên trình chiếu 3 câu hỏi. * Thực hiện nhiệm vụ: Các đội thảo luận , giơ tay trả lời câu hỏi. * Báo cáo, thảo luận: - Đội nào có câu trả lời thì giơ tay, đội nào giơ tay trước thì trả lời trước. - Các thành viên của đội khác nhận xét câu trả lời của đội bạn. * Đánh giá, nhận xét, tổng hợp: - Giáo viên nhận xét câu trả lời của các đội và chọn đội thắng cuộc. - Giáo viên đặt vấn đề: Các em đã biết từ 1 đường thẳng ta có thể lập được phương trình tham số và phương trình tổng quát được gọi chung là phương trình đường thẳng. Vậy từ một đường tròn ta có thể lập được phương trình nào không? Bài học hôm nay ta sẽ giải quyết vấn đề này. 5. Chủ đề Phương trình đường Elip a) Mục tiêu: - Tạo sự chú ý, tò mò của học sinh về Elip. - Biết được cách vẽ Elip bằng các công cụ trong cuộc sống. b) Nội dung: - Cho học sinh xem một số hình ảnh của Elip trong thực tế.
- 14 Hình 1 Hình 2 Hình 3
- 15 Hình 4 - Cho học sinh xem video cách vẽ Elip. Link: 1. Vẽ bằng sợi dây không đàn hồi, không kín hai đầu: sus-elementos-vertices-focos-centro-eje-focal-85c59476a6x4y305a68665.html 2. Vẽ bằng sợi dây không đàn hồi, kín hai đầu: i56405p5a546a4p4f4b5k5.html - Hoạt động nhóm số 1: Chia lớp thành 4 nhóm và giao nhiệm vụ mỗi nhóm vẽ lại một hình ảnh Elip trong thực tế vừa cho bằng các dụng cụ giáo viên chuẩn bị sẵn chia cho các nhóm. - Hoạt động nhóm số 2: Trả lời câu hỏi trên phiếu học tập: Lấy ba điểm A, B, C bất kì trên Elip vừa vẽ, tính tổng khoảng cách từ một điểm bất kỳ tới hai tiêu điểm F1, F2 của Elip. c) Sản phẩm: - Hoạt động nhóm số 1: Biết được cách vẽ Elip bằng các công cụ trong cuộc sống. Biết được hai tiêu điểm F1, F2 của Elip. - Hoạt động nhóm số 2:
- 16 Tính được tổng khoảng cách từ một điểm bất kỳ tới 2 tiêu điểm của Elip. Học sinh tổng kết được tổng khoảng cách từ một điểm bất kỳ tới hai tiêu điểm F1, F2 của Elip là một số không đổi. Học sinh hình thành định nghĩa Elip. d) Tổ chức thực hiện: Phương pháp dạy học: Dạy học hợp tác và trải nghiệm *Chuyển giao nhiệm vụ học tập: Nhiệm vụ 1: Dụng cụ nhóm 1: Bìa carton cứng, đinh ghim giấy, 1 sợi dây cước đã buộc kín hai đầu, 1 sợi dây thừng nhỏ, bút lông. Nhiệm vụ nhóm 1: Vẽ lại hình 1. Dụng cụ nhóm 2: Bìa carton cứng, đinh ghim giấy, 1 sợi chỉ, bút lông. Nhiệm vụ nhóm 2: Vẽ lại hình 2. Dụng cụ nhóm 3: Bìa carton cứng, đinh ghim giấy, 1 sợi dây thừng nhỏ, bút lông. Nhiệm vụ nhóm 3: Vẽ lại hình 3.
- 17 Dụng cụ nhóm 4: Bìa carton cứng, đinh ghim giấy, 1 sợi dây thừng nhỏ, 1 sợi chỉ đã buộc hai đầu, bút lông. Nhiệm vụ nhóm 4: Vẽ lại hình 4. Nhiệm vụ 2: (Phiếu học tập) Lấy ba điểm A, B, C bất kì trên Elip vừa vẽ, tính tổng khoảng cách từ một điểm bất kỳ tới hai tiêu điểm F1, F2 của Elip. Điểm A Điểm B Điểm C F1 A F2 A F1B F2 B F1C F2C * Thực hiện nhiệm vụ: Các nhóm thảo luận, bàn bạc. Bước 3: Báo cáo, thảo luận: Cho đại diện các nhóm lên trưng bày sản phẩm của mỗi nhóm và giải thích cách vẽ. Các nhóm còn lại nghe và nhận xét. * Kết luận, nhận định: - Hoạt động số 1: Giáo viên đặt câu hỏi:
- 18 1. Trong quá trình vẽ hình Elip, sợi dây phải luôn như thế nào để để nét vẽ được đều và liên tục? 2. Sợi dây vẽ hình là một sợi dây không đàn hồi hay đàn hồi? 3. Để vẽ Elip cần cho trước mấy điểm cố định? Giáo viên kết luận: 1. Trong quá trình vẽ hình Elip, sợi dây phãi luôn căng để để nét vẽ được đều và liên tục. 2. Sợi dây vẽ hình là một sợi dây không đàn hồi. 3. Để vẽ Elip cần cho trước 2 điểm cố định. Ta đặt tên hai điểm cố định là F1 , F2 . Hai điểm này được gọi là tiêu điểm của Elip. Độ dài F1F2 được gọi là tiêu cự. - Hoạt động số 2: Giáo viên đặt câu hỏi: 1. Nhận xét gì về các tổng F1 A F2 A , F1B F2 B , F1C F2C vừa tính? 2. So sánh tổng F1 A F2 A với tiêu cự của Elip? Giáo viên kết luận: 1. Các điểm nằm trên đường Elip luôn có tổng khoảng cách đến hai tiêu điểm F1 , F2 một khoảng không đổi. 2. F1 A F2 A 2a F1F2 (Không đổi). Từ đó hình thành định nghĩa Elip. 6. Chủ đề Ôn tập chương VII a) Mục tiêu: Học sinh xác định được các nội dung cần ôn tập trong tiết 1: ôn tập các kiến thức liên quan đến đường thẳng bằng cách vẽ sơ đồ tư duy, từ đó làm các bài tập trong sách giáo khoa. b) Nội dung: Học sinh đã chuẩn bị (ở nhà) mỗi em một sơ đồ tư duy, nội dung tóm tắt kiến thức bài phương trình đường thẳng với 4 ý chính.
- 19 - Giáo viên cho các em lần lượt lên bảng, mỗi em một ý, vẽ các nhánh và nội dung của các nhánh: + Phương trình tham số của đường thẳng; Phương trình tổng quát của đường thẳng + Vị trí tương đối; Góc, khoảng cách. - Làm các bài tập được phân công theo nhóm, và lên bảng trình bày. c) Sản phẩm: - Sơ đồ tư duy trên bảng. - Phần báo cáo kết quả làm bài của các nhóm. - Phiếu đánh giá của các nhóm. d) Tổ chức thực hiện: Phương pháp dạy học: Dạy học hợp tác kết hợp dạy học dự án; Kỹ thuật dạy học: Kỹ thuật sơ đồ tư duy. * Chuyển giao nhiệm vụ học tập: - Giáo viên chia các em thành 4 tổ, có phân công tổ trưởng, thư ký. - Nhiệm vụ 1: Mỗi nhóm bốc thăm chọn 1 trong 4 phần đã chuẩn bị trước, các em trong nhóm thay phiên nhau lên vẽ nhánh và nội dung của phần kiến thức như yêu cầu. - Nhiệm vụ 2: Dùng các kiến thức đã được ôn trên sơ đồ tư duy để giải quyết các bài toán trong phần nội dung tổ mình đảm nhiệm. Sau đó cử các đại diện lên trình bày. Cả nhóm hoàn chỉnh nội dung cần trình bày của nhóm trong 1 tờ giấy A3 hoặc bảng phụ trong 5 phút. Đại diện nhóm lên bảng trưng bày sản phẩm tại vị trí qui định. * Thực hiện nhiệm vụ: Mỗi thành viên trong nhóm cùng nhau đưa ý kiến, đóng góp để hoàn thành sản phẩm, thư kí trình bày sản phẩm vào bảng phụ, đại diện nhóm lên trưng bày sản phẩm.
- 20 * Báo cáo, thảo luận: Các nhóm trưng bày sản phẩm tại vị trí theo qui định. Giáo viên lần lượt gọi hs nhận xét từng sản phẩm của mỗi nhóm, kiểm tra chéo. Với mỗi sản phẩm sẽ áp dụng vào giải quyết bài toán đặt ra. * Kết luận, nhận định: Giáo viên nhận xét và đánh giá chung việc hoàn thành sơ đồ tư duy sau khi kết thúc giờ học. Giáo viên có thể cho điểm nhóm học sinh hoàn thành sản phẩm tốt nhất. Kết quả khi thực hiện giải pháp: Nội dung kiểm chứng : Dạy học phát triển Tư duy phản biện cho học sinh theo giáo án đã thiết kế và sử dụng các biện pháp dạy học đã được đề xuất. So sánh với kết quả của việc dạy học theo phương pháp truyền thống. Phương pháp: Phương pháp thực nghiệm được sử dụng ở đây chủ yếu là phương pháp thực nghiệm đối chứng. Phương pháp thực nghiệm đối chứng là cách thực hiện đồng thời 2 loại hoạt động: dạy học theo phương pháp mới có sử dụng các biện pháp của sáng kiến này và dạy học theo phương pháp truyền thống. Và dưới đây là bảng kết quả khảo sát 70 học sinh ở 2 lớp 10a2 và 10a5 mà không áp dụng sáng kiến giảng dạy. Bảng 1. Kết quả khảo sát học sinh lớp 10a2, 10a5. Câu Nội dung câu hỏi Mức độ và lựa chọn hỏi Tổ chức các Vào thẳng bài Đầu mỗi tiết học toán Kiểm tra bài cũ hoạt động khởi mới 1 Hình, Thầy (cô) động để vào bài thường làm gì? 46/70 = 65,7% 11/70 = 15,7% 13/70 = 18,6% Học không biết Em lo ngại điều gì Khó, trừu tượng để ứng dụng gì Không ngại gì 2 khi học môn toán trong thực tiễn Hình? 51/70 = 72,9% 17/70 = 24,3% 2/70 = 2,8% Em có hứng thú với Có Bình thường Không 3 mỗi tiết học môn toán Hình không? 14/70 = 20,0% 7/70 = 10,0% 49/70 = 70,0%

