Đề thi khảo sát Ngữ văn 10 (Lần 1) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi khảo sát Ngữ văn 10 (Lần 1) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_thi_khao_sat_ngu_van_10_lan_1_nam_hoc_2024_2025_truong_th.docx
Nội dung tài liệu: Đề thi khảo sát Ngữ văn 10 (Lần 1) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)
- SỞ GD & ĐT BẮC GIANG ĐỀ THI KHẢO SÁT LẦN I TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN NĂM HỌC 2024 - 2025 MÔN: NGỮ VĂN LỚP 10 (Đề gồm 02 trang) (Thời gian: 120 phút, không kể thời gian phát đề) Phần I. Đọc hiểu (4.0 điểm) Đọc đoạn trích và trả lời các câu hỏi: Đôi khi con người tự làm khó bản thân khi trói mình vào những u sầu, phiền não. Người hạnh phúc là người biết cởi bỏ đám dây leo chằng chịt đó để tâm hồn được thanh thản. Thay vì giam mình trong những lo toan không đáng có, ta hãy vui vẻ tận hưởng từng ngày, hãy sống hết mình như thể chưa bao giờ có những muộn phiền và rằng cuộc sống luôn ẩn chứa những thú vị bất ngờ. Hãy tin rằng mỗi ngày mới là sự hứa hẹn về những điều mới mẻ chưa từng xảy ra trước đó. Hãy tự làm mới cuộc sống của mình mỗi ngày. Chúng ta không biết trước ta từ đâu tới hay tại sao chúng ta lại ở đây, nhưng luôn có một điều chúng ta có thể hoàn toàn chắc chắn đó là chúng ta đang sống, và vì vậy, đừng lãng phi dù chỉ một ngày. Cuộc sống thực sự của ta đang diễn ra chính hôm nay. Nó không cần ta phải chờ đợi, sắp đặt hay lên kế hoạch. Điều quan trọng cần phải nhập cuộc và sống hết mình với nó. Nếu cánh cửa mà ta mong chờ vẫn im lìm đóng, hãy tự nhủ điều đó chắc chắn có lí do, và tại sao ta không tận hưởng niềm thích thú khi ta bước vào một cánh cửa khác đang mở sẵn đón mình? Cuộc sống của ta là ở đây và ngay bây giờ, không phải “nếu” hay “giá như”. Và vì vậy, hãy vui vẻ tận hưởng những gì trong hiện tại. Bạn đang sống, và vì thế hãy thoả sức bay nhảy trên đôi chân của mình. Hãy đi khắp nơi để mở rộng tầm hiểu biết. Hãy khiến cuộc sống quanh mình sinh động hơn, bởi sống hoàn toàn đối nghịch với chết. Nếu chỉ sống lặng lẽ cho qua ngày thì đó mới chỉ là “tồn tại”. Mỗi người chúng ta cần năng động hoặc ít nhất hãy để trí não của mình sáng tạo, phong phú và tươi mới. (Trích “Quên hôm qua sống cho ngày mai”, Tian Dayton, PH. D, biên dịch: Thu Trang, Minh Tươi, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2014) Câu 1 (0.5 điểm): Đoạn trích trên bàn về vấn đề gì? Câu 2 (0.5 điểm): Theo đoạn trích, cần làm gì để trở thành người hạnh phúc? Câu 3 (1.0 điểm): “Đôi khi con người tự làm khó bản thân khi trói mình vào những u sầu, phiền não. Người hạnh phúc là người biết cởi bỏ đám dây leo chằng chịt đó để tâm hồn được thanh thản.” Việc sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ trong những câu văn trên có tác dụng gì? Câu 4 (1.0 điểm): “Cuộc sống của ta là ở đây và ngay bây giờ, không phải “nếu” hay “giá như”.” Anh/ Chị hiểu câu văn trên như thế nào? Câu 5 (1.0 điểm): Thông điệp nào để lại cho anh/ chị ấn tượng nhất? Vì sao? II. VIẾT (6.0 điểm) Câu 1. (2.0 điểm) Anh / chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của việc sống hết mình với tuổi trẻ.
- Câu 2. (4.0 điểm) Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày cảm nhận của anh/chị về bài thơ sau: NHÀN Nguyễn Bỉnh Khiêm Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao. (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II, Văn học thế kỉ X – thế kỉ XVII, NXB Văn hóa Hà Nội, 1962) Chú thích: 1. Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) quê ở làng Trung Am, nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng. Là Nhà Nho có học vấn uyên thâm. Năm 1535, ông đỗ Trạng nguyên và được ra làm quan dưới triều đại nhà Mạc. Khi còn làm quan, ông từng dâng sớ xin chém đầu mười tám lộng thần. Vua không nghe, ông bèn cáo quan về quê, làm nghề dạy học, sống cuộc đời thanh bạch và giữ gìn khí tiết của một nhà Nho. 2. Giải thích một số từ khó: Mai: Dụng cụ đào đất, xắn đất. Dầu ai: Mặc cho ai. Dù ai có vui thú nào cũng mặc, ta cứ thơ thẩn giữa cuộc đời này. Cội cây: Gốc cây. Câu 7,8: Tác giả có ý dẫn điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe, rồi mơ thấy mình ở nước Hòe An, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hòe phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển tích này có ý: phú quý chỉ như một giấc chiêm bao. ----------HẾT----------
- ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 4,0 1 Vấn đề nghị luận: Mỗi người phải luôn chuẩn bị một tâm hồn tươi mới, 0,5 vui vẻ để sống hết mình và tận hưởng những điều tốt đẹp trong hiện tại. (Sống tích cực trong hiện tại) 2 Theo đoạn trích, để trở thành người hạnh phúc: 0,5 + Cần cởi bỏ những u sầu phiền não để tâm hồn được thanh thản. + Thay vì giam mình trong những lo toan không đáng có, ta hãy vui vẻ tận hưởng từng ngày, hãy sống hết mình như thể chưa bao giờ có những muộn phiền và rằng cuộc sống luôn ẩn chứa những thú vị bất ngờ. 3 - Biện pháp ẩn dụ: đám dây leo chằng chịt ẩn dụ cho những u sầu, phiền 1,0 não luôn tồn tại trong tâm trí mỗi người. Tác dụng: + Làm cho cách diễn đạt thêm sinh động, giàu hình ảnh, gợi cảm xúc. + Nhấn mạnh những u sầu, phiền não là những thứ tiêu cực đeo bám tâm trí khiến ta khó mà thanh thản được. + Nhắn nhủ mọi người cần loại bỏ những u sầu, phiền não, những mối lo toan, bận tâm không đáng có để tận hưởng cuộc sống vui vẻ tin hơn mỗi ngày. 4 - Ý nghĩa câu văn: “Cuộc sống của ta là ở đây và ngay bây giờ, không 1,0 phải “nếu” hay “giá như”: Cuộc sống của mỗi người đáng quý và đáng sống nhất là những giây phút ở hiện tại, chứ không phải ở điều chưa xảy ra nơi tương lai vô định hay quá khứ đã vĩnh viễn trôi qua, không thể lấy lại. - Câu văn trên khuyên chúng ta: Cần nhận thức được cuộc sống của con người chỉ thực sự có ý nghĩa khi sống trọn vẹn với những khoảnh khắc của hiện tại. Từ đó, cần biết trân trọng và tận hưởng cuộc sống mỗi ngày; hãy thoát ra khỏi những dằn vặt, nỗi đau trong quá khứ, không chạy theo những thú vui phù phiếm mà đánh mất niềm hạnh phúc đích thực của đời người. 5 Học sinh tự rút ra một thông điệp ý nghĩa và lí giải ý nghĩa của thông 1,0 điệp một cách thuyết phục trên cơ sở tôn trọng đạo đức và pháp luật. Gợi ý một số thông điệp học sinh có thể rút ra: - Biết trân trọng, sống hết mình cho hiện tại và luôn hướng tới tương lai tươi đẹp. - Hãy “sống” chứ không phải ‘tồn tại”. - Sống vui vẻ, tích cực tâm hồn ta sẽ cảm thấy thanh thản và hạnh phúc . II VIẾT 6,0 1 Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh/ chị 2,0 về ý nghĩa của lối sống hết mình trong tuổi trẻ. a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: 0,25 Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành
- b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,25 Ý nghĩa của lối sống hết mình với tuổi trẻ. c. * Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là 1.0 một số gợi ý: Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp đẽ nhất trong cuộc đời mỗi người, vì thế ta hãy sống hết mình để khi tuổi trẻ qua đi ta không cảm thấy hối tiếc. Thân đoạn: - Giải thích: Sống hết mình với tuổi trẻ là: Tuổi trẻ cần tận hưởng, tận hiến và cố gắng hết mình trong mọi khoảnh khắc; biết trân trọng hiện tại và cố gắng hết sức cho hiện tại bởi lẽ tất cả những gì chúng ta nhận được ở tương lại là kết quả của hiện tại. - Bày tỏ suy nghĩ. Có thể như sau: + Sống hết mình sẽ giúp ta mạnh mẽ đương đầu, có thêm niềm tin, sức mạnh, kinh nghiệm để vượt qua khó khăn, vươn lên và hướng tới những gì tươi sáng nhất. + Sống hết mình, đầy nhiệt huyết sẽ giúp khơi dậy những khả năng vốn ngủ say trong ta, phát huy hết sức mạnh nội tại, tiềm ẩn, giúp ta trở thành một con người ưu tú. + Sống hết mình sẽ giúp truyền cảm hứng cho những người khác, khiến họ cũng trở nên yêu cuộc đời hơn. + Sống hết mình giúp ta sống trọn vẹn từng giây phút cuộc đời, sống một cuộc đời có ý nghĩa để không uổng phí kiếp người. + Nếu mỗi người trẻ đều biết cách toả sáng, sống và cống hiến hết mình thì xã hội sẽ phát t triển, tiến bộ nhanh chóng . ( Học sinh lựa chọn dẫn chứng để làm sáng tỏ những lí lẽ đã đưa ra) Kết đoạn: Tuổi trẻ cần sống hết mình là một lối sống tích cực và có ý nghĩ to lớn. Mỗi bạn trẻ cần nhận thức và hành động như lời Publilius từng nói: “Hãy sống qua mỗi ngãy như thể đó là ngày cuối cùng ta sống.” d. Diễn đạt: 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn 0,25 đạt mới mẻ, biết bình luận mở rộng, lật ngựợc vấn đề 2 Anh/ chị viết bài văn (khoảng 600 chữ) cảm nhận bài thơ “Nhàn” của 4,0 Nguyễn Bỉnh Khiêm. a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài 0,25 Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học – đủ cấu trúc 3 phần Mở - Thân – Kết. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,5 Phân tích, đánh giá bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: 2,5 - Xác định được các ý chính của bài viết - Sắp xếp được các ý theo bố cục hợp lí ba phần của bài văn nghị luận. * Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ Nhàn - một trong những bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện rõ vẻ đẹp cuộc sống và vẻ đẹp trí tuệ và nhân cách cũng như quan niệm sống của tác giả * Thân bài - Khái quát chung: Hoàn cảnh sáng tác, nội dung, đề tài, thể loại, nhân vật trữ tình - Phân tích, đánh giá đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ + Phân tích câu 1,2,5,6 để thấy hoàn cảnh sống và vẻ đẹp cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Phân tích nghệ thuật liệt kê, điệp từ “một”, từ “thơ thẩn” “dầu ai vui thú nào”, nghệ thuật đối, các hình ảnh thiên nhiên 4 mùa gắn với cuộc sống sinh hoạt để thấy được: Sau khi cáo quan về quê ông đã chọn cho mình cuộc sống lao động của một “lão nông tri điền” ở chốn thôn quê, sẵn sàng với cuộc sống tự cung, tự cấp với thái độ ung dung thanh thản, vui với thú vui ở chốn điền viên, sống thuận theo tự nhiên, đạm bạc mà thanh cao, không quan tâm tới thú vui của người đời. + Phân tích câu 3,4,7,8 để thấy được quan niệm sống và vẻ đẹp nhân cách và trí tuệ của tác giả: Phân tích nghệ thuật đối lập, cách nói ngược, các từ ngữ “dại – khôn”, “nơi vắng vẻ - chốn lao xao” để thấy được quan niệm sống “lánh đục về trong” của một nhân cách lớn không màng danh lợi, có cốt cách thanh cao. Phân tích điển tích “phú quý tựa chiêm bao” để thấy được quan niệm sống và nhân cách sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất phát từ sự tuệ thông cuộc sống ông. + Nhận xét, đánh giá: ++ Về ghệ thuật: Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi quen thuộc, sử dụng linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật của thơ Đường như đối, đảo ngữ, sử dụng điển tích, bài thơ như lời bộc bạch, trò chuyện của tác giả, giọng thơnhẹ nhàng, dí dỏm, vui tươi mà sâu sắc, giàu tính triết lí. ++ Về nội dung: Từ bài thơ ta nhàn ra một nhà Nho Nguyễn Bỉnh Khiêm giản dị mà cao đạo, khiêm nhường mà thanh cao, trí tuệ sáng suốt. Đằng sau những lời thơ có phần hóm hỉnh, thái độ “kệ đời” ta lại nhận ra một Nguyễn Bỉnh Khiêm đang cô đơn giữa một phường danh lợi, thân nhàn nhưng tâm không nhàn, vẫn canh cánh một lòng lo cho nước cho dân. Bài thơ đã thể hiện được vẻ đẹp tài năng và nhân cách của một nhà thơ xuất sắc thời trung đại – Nguyễn Bỉnh Khiêm. * Kết bài: Khẳng định giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ, bài học nhân sinh đối với mỗi người. đ. Diễn đạt 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. e. Sáng tạo 0,5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, có liên hệ mở rộng Tổng điểm 10,0

