Đồng bằng sông Hồng và các dạng câu hỏi, bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi và thi tốt nghiệp THPT
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Đồng bằng sông Hồng và các dạng câu hỏi, bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi và thi tốt nghiệp THPT", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
dong_bang_song_hong_va_cac_dang_cau_hoi_bai_tap_boi_duong_ho.docx
Nội dung tài liệu: Đồng bằng sông Hồng và các dạng câu hỏi, bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi và thi tốt nghiệp THPT
- DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT THPT: Trung học phổ thông QL: Quốc lộ HS: Học sinh GV: Giáo viên SGK: Sách giáo khoa HSG: Học sinh giỏi CN: Công nghiệp DV: Dịch vụ 1
- Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Địa lí vùng kinh tế Việt Nam là phần kiến thức trọng tâm có dung lượng kiến thứ lớn và thời lượng giảng dạy nhiều trong chương trình Địa lí 12. Tuy không khó nắm bắt nhưng để hiểu sâu được bức tranh kinh tế xã hội của từng vùng thì đòi hỏi người học phải có kĩ năng tổng hợp các phần địa lí tự nhiên, dân cư và ngành kinh tế đã học ở các chương trước đó. Ngoài ra, học sinh phải biết so sánh, đối chiếu những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội nổi bật giữa các vùng với nhau cũng như hiểu được vai trò của từng vùng trong sự phân công lao động theo lãnh thổ của cả nước. Trong cấu trúc đề thi học sinh giỏi quốc gia lớp 12 môn Địa lí từ năm 2009 trở lại đây, vùng kinh tế luôn chiếm 3/20 điểm với những câu hỏi có nội dung tương đối khó, tập trung vào tìm hiểu nguồn lực phát triển kinh tế nói chung cũng như từng ngành nói riêng và cơ cấu kinh tế của các vùng. Đặc biệt, các câu hỏi liên quan đến vùng Đồng bằng sông Hồng cũng thường xuyên xuất hiện trong các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh ở cả lớp 9 và lớp 12 và đề thi học sinh giỏi quốc gia trong những năm gần đây. Đối với học sinh và giáo viên các trường chuyên, ngoài việc trang bị được các kiến thức cơ bản còn yêu cầu hiểu sâu sắc và rèn luyện các kỹ năng có liên quan, giải các dạng bài tập. Tuy nhiên, trong chương trình sách giáo khoa hiện nay, nội dung chuyên đề chỉ được trình bày ngắn gọn trong một bài học đã không đáp ứng được cho việc giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh các trường chuyên. Bên cạnh đó, các tài liệu nghiên cứu về nội dung này lại chưa gắn kết với hoạt động dạy học mà chủ yếu phục vụ cho mục đích nghiên cứu, tham khảo. Xuất phát từ thực tế giảng dạy chuyên sâu, chương trình bồi dưỡng cho học sinh giỏi Địa lí ở các trường THPT chuyên, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu tham khảo, tác giả đã hệ thống hoá một số nội dung kiến thức và bài tập. Việc hệ thống nội dung lý thuyết và các dạng bài tập liên quan đến vùng Đồng bằng sông Hồng sẽ giúp các giáo viên và học sinh có được nguồn tài liệu đầy đủ, phong phú, logic nhất về vấn đề phát triển kinh tế xã hội nổi bật của vùng, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc dạy và học ở các trường chuyên, ôn luyện thi học sinh giỏi các cấp. Để đáp ứng các yêu cầu trên, tôi xây dựng chuyên đề “Đồng bằng sông Hồng và các dạng câu hỏi, bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi và thi tốt nghiệp THPT”. Đề tài hướng tới đối tượng chính là giáo viên và học sinh các trường chuyên (nhất là trong quá trình ôn luyện thi học sinh giỏi Quốc gia) và ôn thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên, các giáo viên và học sinh phổ thông không chuyên cũng sẽ có được nguồn tài liệu hữu ích phục vụ kì thi THPT quốc gia, các kì thi học sinh giỏi tỉnh. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Biên soạn “Đồng bằng sông Hồng và các dạng câu hỏi, bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi và thi tốt nghiệp THPT” nhằm mục đích làm tư liệu trong việc giảng dạy môn địa lí ở trường phổ thông nói chung, trường chuyên nói riêng và đặc biệt là trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia cũng như ôn thi tốt nghiệp THPT cho học sinh 12. 2
- III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết 2 nhiệm vụ chủ yếu sau: - Tìm hiểu lí thuyết vùng đồng bằng sông Hồng. - Các phương pháp và phương tiện dạy học. - Đưa ra một số câu hỏi tự luận phục vụ thi học sinh giỏi cấp THPT có liên quan đến một số vấn đề của vùng đồng bằng sông Hồng kèm theo hướng dẫn trả lời và các câu hỏi trắc nghiệm có kèm theo đáp án. IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung nghiên cứu một số khía cạnh của đồng bằng sông Hồng: vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ, điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội, bộ khung lãnh thổ, định hướng phát triển và vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở đồng bằng sông Hồng. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU V.1. Phương pháp thu thập tài liệu Do thời gian nghiên cứu có hạn, đối tượng nghiên cứu rộng nên đây là phương pháp chủ đạo được sử dụng trong quá trình thực hiện chuyên đề. Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, đề tài tiến hành thu thập các số liệu và tài liệu liên quan đến nội dung của đề tài gồm: - Các tài liệu tham khảo liên quan đến Đồng bằng sông Hồng. - Các trang web viết về Đồng bằng sông Hồng. V.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh số liệu thống kê. Sau khi thu thập tài liệu, tôi tiến hành tổng hợp, phân tích và so sánh tài liệu để phù hợp với mục đích nghiên cứu. Việc sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp có ý nghĩa quan trọng trước hết với việc “làm sạch” tài liệu đặc biệt là số liệu. Các số liệu thu từ nhiều nguồn khác nhau chắc chắn có độ “vênh” nhất định, cần được xử lí cho phù hợp với thực tế khách quan. Sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra bản chất của đối tượng giúp người nghiên cứu có cơ sở để phát hiện ra tính quy luật về phát triển và phân bố công nghiệp theo thời gian và không gian. V.3. Phương pháp sử dụng bản đồ, sơ đồ, hình ảnh minh họa. Tất cả các quá trình nghiên cứu địa lí đều bắt đầu bằng bản đồ và kết thúc bằng bản đồ. Trong đề tài này, tác giả đã sử dụng một số bản đồ, các sơ đồ và đặc biệt là các hình ảnh minh họa sinh động để giúp người đọc có cái nhìn trực quan về đối tượng nghiên cứu. VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI Đề tài đã hệ thống hóa được những kiến thức khái quát về đồng bằng sông Hồng. Đưa ra được các phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp; hệ thống hóa các dạng câu hỏi liên quan đến vùng. Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề, tôi đã có nhiều cố gắng, song không tránh được những sai sót ngoài mong muốn. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô, đồng nghiệp và các em học sinh. 3
- Phần thứ hai: NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG Trong cuốn Thiên nhiên Việt Nam giáo sư Lê Bá Thảo đã viết: “Đó là miền đất được giành giật từ biển do sức lao động bồi đắp cần cù và nhẫn nại của sông Hồng qua hàng triệu năm, được con người chinh phục cách đây hàng nghìn năm khi đang còn ngổn ngang đầm lầy và lòng sông cũ. Bây giờ nó đã trở thành một châu thổ hình tam giác cân rộng rãi và đường bệ. Nhiều sự tích và truyền thuyết được gắn liền với miền đất có bề mặt bằng phẳng và đẹp đẽ ấy. Dù có hoang đường đến mức nào, chúng cũng chỉ nói lên một cách hình tượng hơn và có hương vị hơn về cuộc đấu tranh hàng thế kỉ giữa người dân sống ở đấy với các lực lượng hung bạo của tự nhiên và các thế lực kẻ thù xâm lược. Đấy là cuộc đấu tranh không nhân nhượng giữa người và nước lũ, biển cả và bão tố, úng, hạn và nhiều biến cố khác nữa.” Đoạn văn trên miêu tả về một vùng đất anh hùng – Vùng Đồng bằng sông Hồng. I.1. Vị trí địa lí và lãnh thổ Hình 1: Bản đồ tự nhiên vùng Đồng bằng sông Hồng I.1.1. Vị trí địa lí: - Đồng bằng sông Hồng có nhiều tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc; có Hà Nội và Hải Phòng là 2/3 đỉnh của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. - Nằm ở hạ lưu của 2 hệ thống sông lớn: sông Hồng, Thái Bình nên có tiềm năng lớn về sản xuất nông nghiệp. - Tiếp giáp: + Trung du và miền núi Bắc Bộ - vùng giàu tài nguyên khoáng sản và thuỷ điện nhất nước ta; Bắc Trung Bộ - vùng có tiềm năng lớn về lâm nghiệp và thủy sản; thuận lợi cho vùng mở rộng vùng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. 4
- + Phía Đông và Đông Nam giáp biển thuận lợi cho phát triển các ngành kinh tế biển và giao lưu với thế giới, cảng Hải Phòng được coi như cửa ngõ vào ra cho toàn bộ Bắc Bộ. Đồng bằng sông Hồng nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa trung du, miền núi phía Bắc và Tây Bắc với vùng biển phía Đông, Đồng bằng sông Hồng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. I.1.2. Lãnh thổ: Vùng đồng bằng sông Hồng bao gồm 10 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Năm 2021, diện tích của vùng là 21.278,46 km2 (6,4% diện tích cả nước), dân số là 23.224.840 người (23,6% dân số cả nước). Có thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - kĩ thuật ... quan trọng của vùng và cả nước. Đồng bằng sông Hồng có hình dạng như một tam giác châu, đỉnh là Việt Trì, đáy là đoạn bờ biển kéo dài từ Hải Phòng đến Ninh Bình. Vùng Đồng bằng sông Hồng bao gồm đồng bằng châu thổ màu mỡ, dải đất rìa trung du với một số tài nguyên khoáng sản, tài nguyên du lịch và vịnh Bắc Bộ giàu tiềm năng với các đảo Cát Bà, Bạch Long Vỹ . I.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên I.2.1. Địa hình Địa hình tương đối bằng phẳng, hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam; trong vùng có nhiều ô trũng (Hà - Nam - Ninh). Có hệ thống đê điều khiến bề mặt đồng bằng bị chia cắt thành nhiều ô. Vùng ngoài đê được phù sa bồi đắp hàng năm màu mỡ; vùng trong đê dễ thoái hóa, bạc màu gồm nhiều khu ruộng bậc cao và các ô trũng ngập nước. Hình 2. Cánh đồng lúa ở Đồng bằng sông Hồng I.2.2. Đất Đất là tài nguyên quan trọng hàng đầu của vùng. Về hiện trạng sử dụng đất: Với tổng diện tích tự nhiên là 21.255 km 2. Cơ cấu sử dụng đất của vùng và các địa phương trong vùng thể hiện trong bảng số liệu sau: 5
- Bảng 1. Cơ cấu sử dụng đất của vùng đồng bằng sông Hồng năm 2020 Trong đó Tổng Đất Chưa Vùng diện tích Nông Lâm chuyên Đất ở sử (nghìn ha) nghiệp nghiệp dùng dụng CẢ NƯỚC 33134,4 35,4 46,5 6,1 2,3 9,7 Đồng bằng sông Hồng 2127,8 36,5 24,2 16,3 7,0 16,0 Hà Nội 336,0 46,4 6,1 20,2 11,8 15,5 Vĩnh Phúc 123,6 43,9 25,6 15,2 6,8 8,5 Bắc Ninh 82,3 49,8 0,7 23,3 13,1 13,1 Hải Dương 166,8 50,2 5,4 19,6 10,3 14,5 Hải Phòng 152,7 32,0 12,0 21,7 10,1 24,2 Hưng Yên 93,0 55,1 - 20,2 10,7 14,0 Thái Bình 158,5 57,8 0,5 19,3 8,7 13,7 Hà Nam 86,2 47,1 5,8 24,4 7,7 15,0 Nam Định 166,9 53,8 1,8 18,7 6,9 18,8 Ninh Bình 141,2 42,5 20,3 15,1 5,0 17,1 (Nguồn: Tổng cục thống kê) Năm 2020, diện tích đất đã sử dụng của vùng khoảng 1.789 nghìn ha chiếm 84% diện tích tự nhiên của vùng. Đất chưa sử dụng: 16%. Quá trình mở rộng diện tích gắn liền với việc quai đê, lấn biển, thực hiện phương thức "lúa lấn cói; cói - sú, vẹt; sú vẹt- biển"; trong quá trình phát triển kinh tế, một số khu công nghiệp được hình thành trên các lưu vực sông đã ảnh hưởng lớn đến Đồng bằng sông Hồng. "Ví dụ, khu công nghiệp Việt Trì, mỗi ngày sử dụng 20,0 vạn m 3 nước, thải ra sông Hồng 10,0 vạn m 3 nước có chứa nhiều chất độc hại; hay khu công nghiệp Thái Nguyên, mỗi ngày lấy 26,0 vạn m 3 nước sông Cầu và 3 thải ra sông 19,2 vạn m (trong nước có chứa nhiều NO2, NH2 và các chất hữu cơ khác"). I.2.3. Khí hậu Đồngbằng sông Hồng có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có một mùa đông lạnh, nhiệt độ không khí trung bình năm 22,5- 23,50C, lượng mưa trung bình năm 1400 - 2000mm. Lượng mưa biến đổi qua nhiều năm không lớn, năm mưa nhiều gấp 2- 3 lần năm mưa ít. Hình 3. Biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa ở Hà Nội 6
- Đặc trưng khí hậu của vùng là có một mùa đông lạnh (tháng 10 đến tháng 4), mùa đông cũng là mùa khô nhưng có mưa phùn. Vì vậy, phần lớn diện tích đất đồng bằng, đất bãi ven sông được sử dụng trồng các loại rau vụ đông (đây cũng là thế mạnh độc đáo của vùng). I.2.4. Nguồn nước Nằm ở hạ lưu của sông Hồng - Thái Bình với nhiều chi lưu, nên mạng lưới sông ngòi rất dày đặc; cùng với lịch sử khai thác lãnh thổ sớm, dân cư quá đông đúc, người dân đã xây dựng hệ thống đê sông, đê biển ngăn lũ, ngăn mặn, phát triển hệ thống tưới tiêu, mở rộng diện tích đất canh tác; kết hợp với hệ thống giao thông vận tải đường bộ, đường thủy rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Đồng bằng sông Hồng có vùng biển khá rộng, đường bờ biển khá dài 400 km từ Thủy Nguyên - Hải Phòng đến Kim Sơn - Ninh Bình, thềm lục địa mở rộng ra phía biển 500 km, có nhiều bãi triều rộng, phù sa dày là cơ sở để phát triển ngành thủy - hải sản (tôm, rong câu) Ở vùng cửa sông ven biển khi triều dâng các dòng nước chảy ngược sông, nếu lũ lớn mà gặp triều dâng gây hiện tượng dồn ứ nước trên sông, dòng chảy ngược mang theo nước mặn lấn sâu vào đất liền (sông Hồng là 20 km, sông Thái Bình là 40 km). Vào mùa cạn, mực nước sông chỉ còn bằng 20 - 30% lượng nước cả năm gây tình trạng thiếu nước. Hình 4. Biển Đồ Sơn, Hải Phòng I.2.5. Sinh vật Tài nguyên sinh vật: vùng có tài nguyên sinh vật khá phong phú với nhiều động thực vật quí hiếm đặc trưng cho giới sinh vật của Việt Nam. Mặc dù trong vùng có các khu dân cư và đô thị phân bố dầy đặc nhưng giới sinh vật vẫn được bảo tồn ở các vườn quốc gia Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương. Hình 5. Vườn quốc gia Cúc Phương 7
- I.2.6. Khoáng sản Tài nguyên khoáng sản không nhiều, đã phát hiện khoảng 307 mỏ và điểm quặng, chủ yếu là đất sét trắng (Hải Dương); đá vôi (Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nội, Ninh Bình) chiếm 25,4% cả nước dùng trong công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và sành sứ. Trong lòng đất có khí đốt (Tiền Hải), có dầu mỏ ở bể trầm tích sông Hồng (800 triệu tấn); than nâu (ở độ sâu quá lớn 200 - 2000 m), trữ lượng vài chục tỉ tấn (80% tập trung ở tỉnh Thái Bình) chưa có điều kiện khai thác. I.3. Tài nguyên nhân văn Là vùng có lịch sử hình thành sớm, là cái nôi của nền văn minh lúa nước; dân cư đông đúc; có truyền thống thâm canh và các ngành nghề thủ công mỹ nghệ. Năm 2021 dân số của vùng 23,2 triệu người. Mật độ dân số trung bình 1.091 người/km 2, gấp khoảng 3,5 lần mật độ dân số trung bình cả nước. Trong đó, nơi có mật độ cao nhất là Hà Nội 2.480 người/km2; cao thứ 2 là Bắc Ninh 1778 người/km2, thấp nhất là Ninh Bình 714 người/km2. Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên còn cao, khoảng 1,07% cao hơn mức trung bình cả nước là 0,93% (năm 2020). Trong đó, cao nhất là Bắc Ninh (1,79%) và thấp nhất là Nam Định (0,8%). Cơ cấu dân số của vùng đang trong thời kì cơ cấu dân số vàng với tỉ lệ người từ 15 - 64 tuổi chiếm trên 65%, nhưng tỷ trọng dân số trên 65 tuổi đang tăng với tốc độ nhanh trên 7%. Tỉ số giới tính năm 2020 là 98,5%, hiện nay đang có sự thay đổi về cơ cấu giới tính cũng như tỉ lệ nữ trong các nhóm tuổi. Về thành phần dân tộc: Đa số dân số là người Kinh, một bộ phận nhỏ thuộc Ba Vì (Hà Nội) và Nho Quan (Ninh Bình) có thêm dân tộc Mường. Bảng 2. Dân số của các vùng thời kỳ 1995 - 2021 (Đơn vị: nghìn người) Năm 1995 2005 2008 2016 2021 Cả nước 71.995,5 83.106,3 86210,8 92.695,1 98.506,2 Đồng bằng sông Hồng 16.136,7 18.028,3 18.545,2 21.133,8 23.224,8 Tây Nguyên 3.384,6 4.757,9 5.004,2 5.693,2 6.033,8 Đông Nam Bộ 9.276,3 11.779,1 12.828,8 16.424,3 18.315,0 Đồng bằng Sông Cửu Long 15.531,9 17.256,0 17.695,0 17.660,7 17.422,6 (Nguồn: Tổng cục thống kê) Dân cư thường tập trung trên các dải đất cao, ven sông, dọc các tuyến giao thông lớn, ở các làng nghề như Bát Tràng (Gia Lâm - Hà Nội), Hữu Bằng (Thạch Thất - Hà Nội), Thuận Vi (Vũ Thư - Thái Bình), các vùng ven biển như Thụy Anh (Thái Thụy - Thái Bình), Nghĩa Hưng (Nam Định),... Khu vực thưa dân chủ yếu ở các vùng bán sơn địa và dải ô trũng của đồng bằng. Hình thức cư trú có hai xu hướng chính theo kiểu làng, xã tập trung thành những điểm trên dải đất cao xen kẽ trong vùng và phân bố dọc hai bờ sông Hồng, Thái Bình (phù hợp với việc sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong vùng gắn với nông ngư nghiệp). 8
- Tỉ lệ dân đô thị năm 2021 là 36,0%, thấp hơn tỉ lệ này của cả nước (37,1%), thấp hơn nhiều so với Đông Nam Bộ (66,4%). Trình độ học vấn và dân trí của vùng cao hơn hẳn các vùng khác. Năm 2021, tỉ lệ người chưa biết chữ chỉ 1,3% (cả nước 4,3%); lao động có chuyên môn kĩ thuật là 37% (cả nước 26,1%); số cán bộ có trình độ cao đẳng – đại học chiếm 35,5% tổng số cán bộ cao đẳng – đại học của cả nước (Đông Nam Bộ là 20,6%). Sự phát triển kinh tế - xã hội lâu đời đã hình thành trên vùng nhiều điểm, cụm kinh tế - xã hội, thị trấn, thị xã, thành phố (đặc biệt là hai trung tâm kinh tế rất lớn Hà Nội, Hải Phòng được coi là 2 cực phát triển của vùng); các làng nghề truyền thống như làng gốm Bát Tràng, làng lụa Vạn Phúc (Hà Nội), làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), chạm bạc (Thái Bình) Tài nguyên văn hóa, lịch sử, những công trình kiến trúc cổ, có mật độ tập trung cao hơn nhiều so với các vùng khác. Đồng bằng sông Hồng có lịch sử khai thác lãnh thổ hơn 1000 năm, là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, hình thành nên văn minh sông Hồng; thuận lợi để phát triển hoạt động du lịch. Tuy nhiên, lịch sử khai thác sớm đã để lại một địa hình ô trũng lớn, rất tốn kém khi cải tạo; khí hậu 2 mùa đã gây mất cân đối nguồn tài nguyên nước, một mùa dư thừa nước lại kèm theo bão lũ dễ bị ngập úng; một mùa khô (thiếu nước). Các sông lớn bắt nguồn từ Trung Quốc qua vùng miền núi trung du rồi vào đồng bằng ra biển, vì vậy mọi tác động của vùng thượng và trung lưu như phá rừng, phù sa bồi lấp cửa sông, nước thải của các khu công nghiệp, nước thải của đô thị... đều có ảnh hưởng lớn đến đồng bằng. Gia tăng dân số vẫn còn cao; di dân tự do vào các thành phố lớn đã gây sức ép lớn đối với nền kinh tế; thất nghiệp ở thành phố, thiếu việc làm ở nông thôn đang là vấn đề lớn cần giải quyết. Mặt khác, việc điều tra cơ bản, xây dựng qui hoạch, kế hoạch khai thác tiềm năng trong vùng còn chắp vá, chưa đầy đủ, gây tình trạng lãng phí, sử dụng không hợp lý.... đều ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng. I.4. Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội I.4.1. Tình hình chung: Vùng có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn bình quân cả nước, giai đoạn 2005-2020 bình quân đạt 7,94%/năm (cả nước là 6,36%). Quy mô kinh tế năm 2020 gấp 7,75 lần so năm 2005, chiếm 29,4% GDP cả nước (đứng thứ 2, sau Vùng Đông Nam Bộ); GRDP bình quân đầu người đạt 103,6 triệu đồng/năm, gấp 1,3 lần bình quân cả nước (sau Vùng Đông Nam Bộ là 141,3 triệu đồng/năm). Cơ cấu chuyển dịch tương đối nhanh theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ (năm 2020 lần lượt là 40,62% và 40,64%); các ngành công nghiệp mũi nhọn phát triển theo hướng hiện đại, quy mô lớn, ít thâm dụng lao động, hàm lượng công nghệ cao. Kinh tế biển phát triển khá, đặc biệt Hải Phòng, Quảng Ninh dần trở thành trung tâm kinh tế biển, dịch vụ cảng biển lớn của cả nước. Thu ngân sách tăng nhanh, tổng thu ngân sách Nhà nước giai đoạn 2005 - 2020 chiếm 32,7% (đến năm 2020 chiếm 34,5%) tổng thu ngân sách nhà nước cả nước (sau vùng Đông Nam Bộ); vùng có 7/11 địa phương có điều tiết về Trung ương. 9
- I.4.2. Về sản xuất nông nghiệp: Từ nền nông nghiệp lúa nước độc canh, đến nay cơ cấu nông nghiệp của vùng đã có những thay đổi đáng kể, nhưng vẫn mang sắc thái của nền nông nghiệp nhỏ bé, lạc hậu, độc canh. Năm 2020, diện tích đất nông nghiệp của vùng là 776,5 nghìn ha; chiếm 36,5% diện tích đất tự nhiên của vùng. Trong đó, năm 2020: Cây lương thực 1,03 triệu ha (12,7% diện tích cây lương thực có hạt của cả nước), sản lượng lương thực 6,3 triệu tấn (13,0% cả nước); đất trồng lúa là 0,97 triệu ha (13,4% cả nước), sản lượng là 6,02 triệu tấn (13,7% cả nước). Cây hoa màu chỉ chiếm 5% chủ yếu là ngô (diện tích 60500 ha, sản lượng 314,3 nghìn tấn), còn lại là khoai, sắn trên các vùng đất bãi ven sông hoặc vùng đất cao luân canh với các cây ngắn ngày khác. Cây công nghiệp hàng năm nhiều nhất là đay (55,1%) và cói (41,28%) cả nước. Ngoài ra còn có đỗ tương, lạc, mía, thuốc lá, dâu tằm,... Đồng bằng sông Hồng có những vùng thâm canh, chuyên canh rau quả xuất khẩu lớn nhất cả nước trong vụ đông xuân (đây là thế mạnh độc đáo của vùng với 3 tháng mùa đông lạnh), phân bố tập trung ở hầu hết các tỉnh trong vùng. Diện tích rau đậu các loại khoảng trên 80,0 vạn ha. Về chăn nuôi, đàn lợn gắn với vùng sản xuất lương thực . Chăn nuôi: Đàn lợn 4,8 triệu con (2020) chiếm 20,4% cả nước; gia cầm lớn nhất cả nước127.966 nghìn con (24,3%); đàn trâu có xu hướng giảm (1985 là 330,0 nghìn con, 2008 còn 107,5 nghìn con, 2020 còn 121,7 nghìn con); đàn bò tăng từ 176,0 năm 1985 nghìn lên 498,1 nghìn con, bò sữa phát triển mạnh ở ngoại thành Hà Nội; chăn nuôi gà công nghiệp đang phát triển mạnh dưới hình thức trang trại. Thủy sản: diện tích nuôi thủy sản năm 2021 của vùng 141,9 nghìn ha (chiếm 12,6% cả nước); sản lượng thủy sản nuôi trồng là 845310 nghìn tấn (chiếm 17,4 % cả nước); chủ yếu là nuôi cá và nuôi tôm. Hoạt động đánh bắt hải sản tương đối phát triển ở các tỉnh giáp biển: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định. I.4.3. Về công nghiệp: Đồng bằng sông Hồng là vùng công nghiệp phát triển vào loại sớm nhất ở nước ta, tập trung nhiều xí nghiệp công nghiệp hàng đầu cả nước. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 cả vùng ước đạt 251 nghìn tỷ đồng; đến năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp toàn vùng đạt 319,18 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 4,9%/năm giai đoạn 2011 - 2015 và đến năm 2020 đạt 551,77 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 11,75%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020. Trong đó, thành phố Hà Nội đạt giá trị sản xuất công nghiệp cao nhất, tiếp đến là Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh Tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ trong GRDP đến năm 2020 của vùng đạt 94,6% (không bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp), trong đó công nghiệp xây dựng là 44,76%, dịch vụ 49,33%. So với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu hai khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đã đạt 99,6% mục tiêu đến năm 2020 (mục tiêu được phê duyệt là 94,5%). Ngành công nghiệp - xây dựng tiếp tục duy trì vai trò trụ cột tăng trưởng của vùng (tập trung tại một số tỉnh, thành phố của Vùng như Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng), tỷ trọng GDP ngành công nghiệp - xây dựng của vùng Đồng bằng sông Hồng so với cả nước đã 10
- tăng từ 28,6% năm 2016 lên 30,7% GDP năm 2020, tăng trưởng chủ yếu từ các ngành công nghiệp mũi nhọn như: điện, điện tử, lắp ráp ô tô, đóng tàu, dệt may, công nghiệp phụ trợ. Những ngành quan trọng, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu GDP là công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm (20,9%), công nghiệp nhẹ (dệt, may, da) 19,3%, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (17,9%), cơ khí (thiết bị máy móc, điện tử, điện) 15,6%, hóa chất - phân bón - cao su (8,1%). Sản phẩm công nghiệp cung cấp cho nhu cầu của vùng, cho các tỉnh phía Bắc và cả nước. Một số khu, cụm công nghiệp được hình thành có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc hay khu công nghệ cao Hòa Lạc - Xuân Mai. I.4.4. Các ngành dịch vụ, thương mại Các ngành công nghiệp, dịch vụ của vùng thực chất mới đang phát triển. + Về giao thông vận tải: Kết cấu hạ tầng giao thông, vận tải phát triển nhanh, đồng bộ, hiện đại, tốt so với các vùng trên cả nước, hội tụ đủ 5 phương thức vận tải. Đến năm 2020, toàn vùng có 496 km đường cao tốc, 2.133 km quốc lộ, có mật độ đường cao tốc và quốc lộ cao nhất cả nước. Trong đó, mật độ đường cao tốc là 2,33 km/100 km 2 (cả nước trung bình là 0,37 km/100 km2) và mật độ quốc lộ là 10,1 km/100 km2 (cả nước trung bình là 7,4 km/100 km2). Phát triển đô thị tăng nhanh, tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2021 đạt trên 41% (đứng thứ 2/6 vùng kinh tế, sau Đông Nam Bộ). + Là vùng có hoạt động thương mại lớn của cả nước, Đồng bằng sông Hồng đảm nhận phân phối hàng hóa cho các tỉnh phía Bắc và ven biển miền Trung. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2020 là 1.133.379,9 tỷ đồng; chiếm 23,4% cả nước (2020). Đây là nơi có ngành tài chính, ngân hàng, xuất nhập khẩu, du lịch, thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ lớn của cả nước. Là vùng nổi trội hơn hẳn các vùng khác về dịch vụ bưu điện và kinh doanh tiền tế (tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, kho bạc, xổ số). Về dịch vụ bưu điện, thì trên 70% là cung cấp cho ngoài vùng. Thu hút FDI tăng khá nhanh. Đến năm 2020, đứng thứ 2 trong các vùng kinh tế (chiếm khoảng 31,4% tổng vốn cả nước). Trong đó, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh luôn thuộc nhóm 10 địa phương có tổng số vốn FDI dẫn đầu cả nước. Như vậy, cơ cấu kinh tế của Đồng bằng sông Hồng đang có sự chuyển dịch theo hưởng tăng tỉ trọng của khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm tỉ trọng của khu vực nông - lâm - ngư nghiệp. Trong nội bộ của từng ngành cũng có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. I.5. Bộ khung lãnh thổ của vùng I.5.1. Hệ thống đô thị - Là vùng phát triển sớm nên có mạng lưới đô thị khá dày đặc; năm 2021 vùng có 1 đô thị đặc biệt (thủ đô Hà Nội), 1 đô thị loại 1 (thành phố Hải Phòng), 14 thành phố trực thuộc tỉnh (Nam Định, Phủ Lý, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Thái Bình, Ninh Bình, Tam Điệp, Chí Linh, Phúc Yên, Từ Sơn, Mỹ Hào và Sơn Tây); khoảng cách giữa các đô thị này chỉ vài chục km; điều này rất thuận lợi cho việc trao đổi thông tin - lao động - hàng hóa giữa các khu vực với nhau. - Các đô thị lớn của vùng: 11
- + Hà Nội là thủ đô, đô thị hạt nhân của vùng. + Phía bắc là các đô thị vệ tinh như Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Xuân Mai,... + Phía đông của vùng có thành phố Hải Phòng là trung tâm lớn, có sân bay quốc tế cùng tên, bên cạnh Hải Phòng có Hải Dương, Hưng Yên trên QL5, QL 39, QL18... + Phía nam có thành phố Nam Định cùng với cụm đô thị kề bên như thị xã Tam Điệp, thành phố Ninh Bình, thành phố Phủ Lý, thành phố Thái Bình, cùng hàng loạt các thị trấn dọc theo QL 10 và QL 1A. I.5.2. Hệ thống trục tuyến giao thông - Hệ thống đường sắt đều qui tụ ở Hà Nội, chiếm khoảng 1/3 tổng chiều dài cả nước. Quan trọng nhất là tuyến đường sắt Thống Nhất. Đoạn Hà Nội - Đồng Đăng dài 167 km, có 21 ga, đi qua vựa lúa lớn của vùng, qua các thành phố, thị xã quan trọng, lưu lượng hàng hóa và hành khách qua lại rất lớn. Tuyến Hà Nội - Hải Phòng (102 km), chạy song song với QL5 là cửa ngõ xuất nhập khẩu lớn nhất của miền Bắc, tuyến này hợp với Hà Nội - Lào Cải tạo thành tuyến Hải Phòng - Côn Minh xuyên dọc thung lũng sông Hồng, đi qua các vùng giàu tài nguyên khoáng sản, cây công nghiệp, các trung tâm công nghiệp lớn. Đây sẽ là tuyến huyết mạch trong hệ thống đường sắt của vùng. - Mạng lưới đường ô tô cũng đều qui tụ về trung tâm Hà Nội và tỏa đi các hướng với các trục chạy song song với hệ thống đường sắt, hoặc men theo đường bờ biển. Cả mạng lưới và phương tiện vận tải đều chiếm tỉ trọng lớn nhất cả nước; khoảng cách mỗi đầu mút cách trung tâm không quá 400 km. Các tuyến quan trọng: QL1A từ Bắc Ninh - Hà Nội - Ninh Bình; QL5 (Hà Nội - Hải Phòng); QL6 (Hà Nội - Hà Đông - Tây Bắc); QL10 chạy song song với cạnh đáy của châu thổ (Hải Phòng - Thái Bình - Nam Định); đường 17 (Hải Dương - Ninh Giang); đường 39 (Thái Bình - Hưng Yên; đường 39B (Chợ Gạo, Thành phố Hưng Yên - Hải Dương),... - Mạng lưới đường sông gần như đều đi qua các thành phố lớn từ duyên hải lên trung du miền núi như: Hải Phòng, Nam Định, Hà Nội, Việt Trì, Thái Nguyên, Bắc Giang..., mớm nước sâu (ví dụ, cửa Nam Triệu có chỗ sâu trên 9 m, đến Việt Trì còn 2,5 m), hàng hóa theo đường sông có thể đến nhiều vùng lãnh thổ khác nhau. - Các luồng chở khách: Hà Nội - Thái Bình (118km), bến chính Hưng Yên (cách Hà Nội 75km), Nam Định (108km). Hải Dương - Chũ (93 km), bến chính Phả Lại (28 km), Lục Nam (61 km) và Chũ. Sơn Tây - Chợ Bờ (113 km), bến chính Việt Trì, Hòa Bình, Chợ Bờ. Hải Phòng - Bắc Giang (107 km), các bến Đông Triều, Chí Linh, Phả Lại, Bắc Giang. Hải Phòng - Cẩm Phả (90 km) - Móng Cái (196 km), 3/5 chiều dài đi ven biển, các bến Quảng Yên, Cát Hải, Hòn Gai, Cẩm Phả Mũi ngọc, Móng Cái. Hải Phòng - Nam Định (153 km) từ sông Cấm sang sông Luộc về sông Hồng đến Bến Lữ (Tiên Lữ - Hưng Yên) tách 2 luồng: luồng Hưng Yên-Dốc Lã (140 km), luồng Hưng Yên-Nam Định (153 km). - Các luồng chở hàng hóa: Hải Phòng - Việt Trì (300 km): than, phân bón, vật liệu xây dựng, lương thực thực phẩm. Hải Phòng - Bắc Giang - Thái Nguyên (217km): xi măng, sắt thép, sản phẩm công nghiệp tiêu dùng. Hải Phòng - Hòn Gai - Cẩm Phả - Móng Cái (196 km): than, xi măng, lương thực thực phẩm. Văn Lý - Ninh Cơ - Nam Định: muối, 12
- lương thực... Hà Nội - Việt Trì - Hòa Bình (nông - lâm, công nghệ, vật liệu, lương thực thực phẩm...) - Các cảng biển: Trong vùng có những cảng quan trọng: Hải Phòng, Cửa Lục, Cửa Ông, Hòn Gai. Quan trọng nhất là cảng Hải Phòng, cảng nằm ở bên bờ sông Cấm, thông với sông Bạch Đằng để đi ra cửa Nam Triệu, mớm nước trên 7 m, tàu 1,0 vạn tấn ra vào thuận lợi, là đầu mối nối với Hà Nội bằng nhiều tuyến đường sắt, bộ, sông, hàng không, ống. Cảng có thể tiếp nhận > 2,0 triệu tấn hàng/năm. Từ cảng này xuất ra ngoài (quặng kim loại, nông sản, lâm sản, hàng công nghệ...), nhập vào (nhiên liệu lỏng, thiết bị máy móc, hàng tiêu dùng, lương thực – thực phẩm, phương tiện vận tải) - Đường hàng không: trong vùng có 2 sân bay quốc tế Nội Bài, Cát Bi với nhiều tuyến đường bay trong và ngoài nước (sân bay Nội Bài được trang bị kĩ thuật rất hiện đại). I.6. Định hướng phát triển I.6.1. Định hướng chung Theo Nghị quyết 30-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển vùng ĐBSH đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển vùng bảo đảm phù hợp với tiềm năng, thế mạnh. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021 - 2030 đạt 9%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 274 triệu đồng/người/năm; kinh tế số đạt khoảng 35% GRDP; tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 55%... Tầm nhìn đến năm 2045, ĐBSH là vùng phát triển hiện đại, văn minh, sinh thái; là trung tâm kinh tế, tài chính lớn mang tầm khu vực và thế giới; trung tâm hàng đầu của cả nước về văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, thông minh. - Đối với công nghiệp: Mục tiêu đến 2025, ngành công nghiệp chiếm khoảng 40 - 42% trong cơ cấu kinh tế vùng, sản phẩm của vùng có chất lượng cao, thân thiện với môi trường; có khả năng đáp ứng cơ bản các yêu cầu của nền kinh tế và xuất khẩu. Đến năm 2035, công nghiệp Vùng Đồng bằng sông Hồng phát triển với công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; đội ngũ lao động chuyên nghiệp, chủ động trong các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo. Ngành công nghiệp chiếm khoảng 38-40% trong cơ cấu kinh tế vùng. Để thực hiện được các mục tiêu trên, giai đoạn đến năm 2025: Quy hoạch định hướng phát triển công nghiệp Vùng Đồng bằng sông Hồng phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng vào những ngành có lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh như: công nghiệp điện tử, cơ khí chính xác, ô tô, xe máy, sản xuất dụng cụ y tế, công nghiệp dược, hóa mỹ phẩm; tiếp tục phát triển một số ngành công nghiệp hóa chất, khai thác than, vật liệu xây dựng, dệt may, da giày và công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; liên kết nội vùng, ngoại vùng để hình thành mạng lưới sản xuất công nghiệp và phân phối hàng hóa một cách đồng bộ nhằm sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp; khuyến khích phát triển công nghiệp hỗ trợ cho các ngành công nghiệp chủ lực như: cơ khí chế tạo, dệt may, sản xuất ô tô ô xe máy, điện tử, tạo ra mạng lưới vệ tinh cho các công ty lớn; phát triển công nghiệp bền vững, cơ sở hạ tầng đồng bộ, chú trọng đến xây dựng các công trình bảo vệ môi trường. 13
- Giai đoạn đến năm 2035: tập trung vào các ngành sản xuất có công nghệ và thiết bị tiên tiến, các sản phẩm của công nghiệp có thương hiệu uy tín, có chất lượng và giá trị cao, có khả năng cạnh tranh, đáp ứng được tiêu chuẩn cao của các nước phát triển. Về phân bố không gian phát triển công nghiệp, quy hoạch bố trí không gian công nghiệp theo vị trí các khu công nghiệp và các hành lang công nghiệp + Về phát triển các khu công nghiệp: tiếp tục đầu tư hoàn thiện các khu công nghiệp hiện có trên địa bàn các tỉnh trong vùng; hình thành có chọn lọc một số khu dựa trên các cơ sở công nghiệp đã có sẵn nhằm giải quyết tốt vấn đề đảm bảo hạ tầng cho phát triển công nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất công nghiệp; phát triển các khu công nghiệp dọc theo các tuyến hành lang Quốc lộ 18, Quốc lộ 5, Quốc lộ 1; các khu vực có điều kiện thuận lợi về hạ tầng, có dự trữ đất xung quang Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng Ninh và trên địa bàn các tỉnh khác trong vùng; hình thành một số khu công nghiệp gắn với trục quốc lộ 10, đường ven biển đi qua các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình; khai thác quỹ đất phèn chua không thích hợp cho trồng lúa. + Về phát triển các hành lang công nghiệp: Quy hoạch phát triển hành lang kinh tế Hà Nội - Hải Phòng; hành lang kinh tế Hà Nội - Nội Bài - Hạ Long; hành lang kinh tế Hà Nội - Việt Trì qua thành phố Vĩnh Yên (theo cao tốc mới); hành lang kinh tế ven biển (Quảng Ninh - Hải Phòng- Thái Bình- Nam Định - Ninh Bình) và hành lang kinh tế Hà Nội - Lạng Sơn (theo tuyến Quốc lộ 1) - Trong nông nghiệp: Vùng định hướng phát triển nông nghiệp hiệu quả cao, bền vững, sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng nông nghiệp dựa trên ứng dụng công nghệ cao, sản xuất an toàn, hữu cơ, sản xuất sản phẩm có giá trị cao theo chuỗi giá trị, tuần hoàn gắn với xây dựng nông thôn mới hiện đại, nông dân văn minh. Tập trung phát triển các vùng chuyên canh hàng hóa lớn, chất lượng cao như: lúa, rau, hoa, quả đặc sản, cây cảnh; chú trọng xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông sản đặc hữu cho vùng, địa phương; tăng cường ứng dụng công nghệ cao vào trong chăn nuôi công nghiệp, theo mô hình trang trại, trong đó tập trung vào các sản phẩm chủ lực như lợn, bò, gia cầm; đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản gắn với xây dựng, phát triển thương hiệu. Tập trung đầu tư hoàn thành Trung tâm hậu cần nghề cá lớn tại thành phố Hải Phòng. Phát triển kinh tế lâm nghiệp kết hợp với bảo vệ chặt chẽ, nâng cao chất lượng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ven biển và khu bảo tồn thiên nhiên. Phải sử dụng tiết kiệm đất, thực hiện thâm canh, tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất; phát triển lương thực ở mức tối đa (đảm bảo an toàn lương thực quốc gia); tăng nhanh đàn lợn và các vùng chuyên canh rau quả; mở rộng có mức độ các cây đay, cói, mía, đậu tương, phát triển cây dâu tằm; trồng và bảo vệ rừng phòng hộ kết hợp lấy gỗ củi. Chú ý tổ chức tốt khâu chế biến nông sản và thị trường tiêu thụ (hướng mạnh vào thị trường ngoài nước); khai thác có hiệu quả 1,0 vạn ha mặt nước chưa được sử dụng và vùng nước lợ - mặn ven biển từ Hải Phòng - Ninh Bình để phát triển nghề nuôi trồng thủy, hải sản như cá, tôm, rong câu,... Đẩy mạnh việc đánh bắt xa bờ để tăng nguồn thực phẩm phục vụ nhu cầu trong vùng và xuất khẩu. 14
- I.6.2. Về không gian lãnh thổ: hình thành 3 cụm đô thị gắn với phát triển công nghiệp, dịch vụ. - Cụm phía Tây Bắc - trung tâm chính là Hà Nội. Theo qui hoạch của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học – kĩ thuật, giáo dục – đào tạo, y tế lớn của cả nước. Thành phố phát triển theo trục lộ chính, dạng hình sao, xen kẽ cây xanh, hồ nước kết hợp với sông đi sâu vào trung tâm, tạo nên cảnh quan môi trường xanh - sạch. Hà Nội có nhiệm vụ cung cấp đội ngũ lao động có trình độ khoa học – kĩ thuật – công nghệ, thông tin; kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, chuyển giao công nghệ tiên tiến cho các tỉnh (đặc biệt là phía bắc). - Các thành phố vệ tinh của Hà Nội sẽ là: + Nội Bài, đô thị vệ tinh ở phía Bắc với sân bay cùng tên. Các khu công nghiệp tập trung sẽ hình thành là Sóc Sơn - Đông Anh, diện tích ~ 3.000 ha, dân số 15,0 vạn - 25,0 vạn. + Hòa Lạc là đô thị vệ tinh phía Tây Bắc, ở đây sẽ hình thành "làng khoa học", các khu công nghiệp tập trung là Sơn Tây - Xuân Mai; khu du lịch Đồng Mô - Ngải Sơn, Suối Hai, Ao Vua. Diện tích 3.500 - 4.000 ha, dân số 30,0 - 50,0 vạn người. + Ngoài ra, một số đô thị sẽ được nâng cấp, hoặc xây dựng mới cùng với các khu công nghiệp sẽ được hình thành theo nó như thị xã Sơn Tây, thị xã Xuân Mai, thị xã Vĩnh Yên nằm trên trục QL 21A kéo dài; thành phố Bắc Ninh trên QL 1A, Thị trấn Đông Anh trên QL 3. Các thị xã, thị trấn này sẽ cung cấp nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp sẽ hình thành tại đây. - Cụm phía Đông với trung tâm là thành phố Hải Phòng. Hải Phòng sẽ giữ vai trò đầu mối giao lưu liên vùng, cửa ngõ mở ra biển với quốc tế của vùng và các tỉnh phía Bắc. Thành phố phát triển dựa vào lợi thế về giao thông vận tải biển, công nghiệp cảng, hàng hải và dịch vụ cảng. Thành phố sẽ mở rộng theo các hướng chính: Hướng nam - đông nam theo QL14 ra phía Đồ Sơn. Phía bắc sẽ hình thành khu phố mới ở phía bắc sông Cấm (thuộc Tân Dương, Vũ Yên của huyện Thủy Nguyên), tiếp tục mở rộng về phía tây dọc QL5 để tạo thành các đô thị vệ tinh Vật Cách, An Hải. Còn ở trung tâm thành phố sẽ được mở rộng thêm về phía Kiến An, Đình Vũ. Ngoài ra, thành phố Hải Dương và thành phố Hưng Yên cũng được mở rộng và phát triển trở thành thành phố vệ tinh, giữ vai trò nòng cốt của tiểu khu vực. - Cụm đô thị phía Nam với trung tâm là thành phố Nam Định. + Thành phố Nam Định sẽ phát triển thành thành phố công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến. + Thị xã Tam Điệp sẽ được mở rộng với diện tích 1.000 ha và dân số 20,0 vạn người. Các ngành công nghiệp sẽ đầu tư phát triển là xi măng và vật liệu xây dựng dựa vào thế mạnh về nguồn đá vôi tại chỗ. + Thành phố Ninh Bình sẽ phát triển thành đô thị du lịch, và công nghiệp chế biến nông sản. Qui mô cũng mở rộng 1.000 ha với số dân 20,0 vạn người. + Thị xã Phủ Lý sẽ phát triển thành đô thị vệ tinh của Hà Nội ở phía Nam. Tại đây sẽ nâng cấp QL 21A nối với QL6 ở Xuân Mai đi Tây Bắc. Như vậy Phủ Lý sẽ là cửa ngõ 15
- ra biển của Tây Bắc và cả Đông Bắc của Lào. Theo qui hoạch, diện tích là 1.000 ha, dân số 20,0 vạn người. + Thành phố Thái Bình và hệ thống các đô thị dọc QL10 sẽ đầu tư phát triển các điểm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến nông - hải sản. I.7. Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và các định hướng chính I.7.1. Thực trạng Cơ cấu kinh tế đang có sự chuyển dịch theo hướng: + Giảm tỉ trọng của khu vực nông - lâm - ngư nghiệp. + Tăng nhanh tỉ trọng của khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ. => Sự chuyển dịch cơ cấu của vùng theo hướng tích cực, tuy nhiên sự chuyển dịch còn chậm. Trong nội bộ từng ngành kinh tế có sự chuyển dịch : cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp đa dạng hơn, ngành chăn nuôi phát triển mạnh, dịch vụ nông nghiệp có nhiều chuyển biến. Các ngành công nghiệp trọng điểm được chú trọng phát triển, các ngành công nghiệp có trình độ khoa học công nghệ cao đang được xây dựng và phát triển. Dịch vụ có nhiều chuyển biến, năng lực phục vụ ngày càng tốt hơn. I.7.2. Các định hướng chính - Xu hướng chung là phải tiếp tục giảm tỉ trọng của khu vực I (nông - lâm - ngư nghiệp) và tăng nhanh tỉ trọng của khu vực II (công nghiệp - xây dựng) và khu vực III (dịch vụ) trên cơ sở đảm bảo tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh, hiệu quả cao gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường. - Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ từng ngành có sự khác nhau, nhưng trọng tâm là phát triển và hiện đại hoá công nghiệp chế biến, các ngành công nghiệp khác và dịch vụ gắn với yêu cầu phát triển nền nông nghiệp hàng hoá. + Đối với khu vực I, giảm tỉ trọng của ngành trồng trọt, tăng tỉ trọng của ngành chăn nuôi và thuỷ sản. Riêng trong ngành trồng trọt lại giảm tỉ trọng của cây lương thực và tăng dần tỉ trọng của cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả. + Đối với khu vực II, quá trình chuyển dịch lại gắn với việc hình thành các ngành công nghiệp trọng điểm để sử dụng có hiệu quả các thế mạnh về tự nhiên và con người của vùng. Đó là các ngành chế biến lương thực - thực phẩm, ngành dệt - may và da giày, ngành sản xuất vật liệu xây dựng, ngành cơ khí - kĩ thuật điện - điện tử. + Đối với khu vực III, du lịch là một ngành tiềm năng. Đồng bằng sông Hồng có nhiều thế mạnh về du lịch, đặc biệt ở Hà Nội và vùng phụ cận cũng như ở Hải Phòng. Trong tương lai, du lịch sẽ có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế của vùng. Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, giáo dục và đào tạo ... cũng phát triển mạnh nhằm đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch kinh tế. 16
- CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC II.1. Phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy học là một tất yếu khách quan nhằm hướng đến người học làm trung tâm. Hiện nay nhất là đối với trường chuyên, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đang là đòi hỏi cấp thiết để tạo ra các thế hệ học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức và giải quyết các vấn đề có liên quan. Vì vậy, với các nội dung Địa lí nói chung và phần vùng Đồng bằng sông Hồng nói riêng đặc biệt dành cho đối tượng học sinh giỏi, cần vận dụng các phương pháp dạy học tích cực một cách triệt để và hiệu quả. Bên cạnh các phương pháp truyền thống, chúng tôi mạnh dạn đưa vào các phương pháp mới, nhằm giúp học sinh cảm thấy hứng thú hơn khi học, theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Một mặt, củng cố kiến thức cho các em, mặt khác cũng hy vọng hình thành những năng lực chuyên biệt cho học sinh chuyên. II.1.1. Phương pháp đàm thoại gợi mở Đây là phương pháp, trong đó giáo viên soạn ra câu hỏi lớn cho HS. Sau đó, chia câu hỏi lớn ra thành một số câu hỏi nhỏ hơn, có quan hệ lôgic với nhau, tạo ra những cái mốc trên con đường thực hiện câu hỏi lớn. Đàm thoại gợi mở là một phương pháp truyền thống, sử dụng tương đối phổ biến trong các trường, các cấp học. GV dựa vào những phản hồi thường xuyên của HS để liên tiếp đưa ra những gợi ý hoặc tái hiện kiến thức nhằm đưa HS tới nội dung cần đạt. Đối tượng học sinh giỏi là đối tượng có kiến thức chắc chắn, vững vàng nên phương pháp này đem lại hiệu quả rất lớn. Trong khi giảng dạy về chuyên đề địa lí vùng Đồng bằng sông Hồng, phương pháp đàm thoại gợi mở có thể sử dụng và đạt hiệu quả cao khi hướng dẫn học sinh trình bày những nét khái quát chung về vùng bao gồm vị trí giới hạn, thế mạnh và hạn chế nổi bật của vùng. Ví dụ: Khi giảng vị trí địa lí của vùng Đồng bằng sông Hồng, GV có thể sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để hướng dẫn HS tìm hiểu vấn đề này. - Bước 1: GV đưa ra câu hỏi lớn “Dựa vào Atlat và SGK em hãy: Phân tích ý nghĩa của vị trí địa lí với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đồng bằng sông Hồng”. - Bước 2: GV đưa ra các câu hỏi gợi ý Câu 1: Dựa vào Atlat, cho biết vùng Đồng bằng sông Hồng liền kề với những vùng kinh tế nào? Điều đó thuận lợi gì với việc phát triển nền kinh tế mở? Câu 2: Dựa vào Atlat cho biết vùng Đồng bằng sông Hồng giáp với những nước nào, các cửa khẩu quốc tế tiêu biểu? Câu 3: Dựa Atlat cho biết vùng Đồng bằng sông Hồng giáp biển ở tỉnh nào? Thuận lợi để phát triển những ngành gì? Câu 4: Dựa Atlat cho biết vùng đồng bằng sông Hồng có tỉnh nào nằm trong vùng kinh tế trọng điểm hay không? Thuận lợi gì để phát triển kinh tế? - Bước 3: HS dựa vào hệ thống câu hỏi trên để tìm ra đáp án phù hợp, trên cơ sở trả lời các câu hỏi gợi mở, học sinh sẽ hoàn thành được câu hỏi lớn. Sau đó GV chuẩn kiến thức. 17
- II.1.2. Phương pháp đóng vai Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học địa lí sẽ khuyến khích HS nhập mình vào thực tế cuộc sống và thử đặt mình vào vị trí của những người có địa vị khác nhau trong xã hội giải quyết các tình huống cụ thể của cuộc sống. Phương pháp này giúp HS tìm hiểu quá trình liên quan đến việc ra quyết định và tiếp cận quan điểm của người khác. Mặt khác khi tham gia đóng vai HS phải thể hiện diễn xuất của mình, xuất phát từ thực tế cộng với ý nghĩa, óc tưởng tượng, sáng tạo của HS đã tạo cho người học cảm xúc. Đó là cơ sở HS quan tâm đến những vấn đề thực tế, đặc biệt đối với môn địa lí là môn khoa học xã hội, gắn liền với thực tế cuộc sống, trình bày nhiều vấn đề gần gũi với HS thì sử dụng phương pháp đóng vai sẽ mang lại hiệu quả cao. Trong chuyên đề vùng Đồng bằng sông Hồng, phương pháp này phù hợp khi áp dụng cho các em học sinh đứng ở vị trí là lãnh đạo các tỉnh Đồng bằng sông Hồng sẽ đưa ra cách thức khai thác có hiệu quả các thế mạnh của tỉnh và từng bước khắc phục những hạn chế. Phương pháp đạt hiệu quả cao nhất khi được kết hợp với phương pháp làm việc nhóm và tranh luận. Ở bài này nên áp dụng phương pháp này trong phần tổng kết và củng cố. Ví dụ: Từ vị trí người đứng đầu quản lí tỉnh Bắc Giang, Hải Dương...., em sẽ tập trung phát triển những ngành kinh tế nào là thế mạnh của địa phương? (Mỗi nhóm học sinh được chỉ định một địa phương và được yêu cầu thuyết phục về dự án của mình sẽ đầu tư vào những ngành đó.) Để củng cố kiến thức, giúp các em nắm chắc vấn đề thì đây là phương pháp rất hiệu quả, và hấp dẫn. Tùy theo mục đích của giáo viên muốn tái hiện kiến thức, muốn làm rõ, khắc sâu vấn đề học sinh còn mơ hồ hay muốn thêm các kĩ các kĩ năng sống khác mà vấn đề đưa ra có thể khác nhau, nhưng cần kèm thêm luật tranh luận được thống nhất ngay từ đầu. II.1.3. Phương pháp thảo luận nhóm Phương pháp dạy học theo nhóm là phương pháp đặt HS vào môi trường học tập (nghiên cứu, thảo luận...) theo các nhóm HS. Một trong những lí do chính để sử dụng phương pháp này nhằm khuyến kích HS trao đổi và biết cách làm hợp tác với người khác để học hỏi lẫn nhau, cùng chia sẻ kinh nghiệm trong học tập. Phương pháp này giúp các em có khả năng tương tác với người học khác, là một cách để học tập cách định hướng bài làm, sử dụng phương tiện để giải quyết vấn đề. Tuy nhiên nó đòi hỏi thời gian nhất định để các nhóm làm việc, thảo luận và trình bày. Ở phần địa lí vùng Đồng bằng sông Hồng, khi giảng dạy các nội dung vấn đề khai thác thế mạnh tự nhiên của vùng thì phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp có hiệu quả nhất. Trong đó GV có thể chia lớp thành 5 nhóm cùng tìm hiểu về các thế mạnh nổi bật của vùng và trao đổi theo 3 tiêu chí: khả năng, hiện trạng và phương hướng khai thác có hiệu quả: 18
- II.1.4. Phương pháp động não Phương pháp động não là một phương pháp dùng để giải quyết nhiều loại vấn đề khác nhau, giúp cho người học trong thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Cách sử dụng phương pháp động não như sau: GV đưa chủ đề cần tìm hiểu lên bảng. Khích lệ HS phát biểu và đưa ra ý kiến của mình để tìm ra các ý nhỏ bổ sung cho chủ đề chính. Đối với mỗi ý kiến của HS, GV có thể ghi lại trên bảng thành sơ đồ. Phương pháp này có thể sử dụng ở hầu hết các nội dung trong phần địa lí vùng Đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là khi ôn tập, kiểm tra. Ví dụ: Khi ôn tập về thế mạnh phát triển tổng hợp kinh tế biển GV có thể hỏi - Bước 1: GV có thể đưa ra câu hỏi: Dựa vào SGK và Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức của bản thân, trong thời gian 1 phút em hãy đưa ra những thách thức nổi bật hiện nay của vùng Đồng bằng sông Hồng. - Bước 2: GV gọi HS trả lời nhanh, mỗi HS đưa ra một đáp án, GV ghi lại tất cả các đáp án đúng, đáp án sai. - Bước 3: Khi thời gian kết thúc, GV tổng kết kiến thức, đưa ra đáp án câu hỏi. II.1.5. Phương pháp sơ đồ tư duy “ Địa lí là môn học thật nhàm chán với quá nhiều số liệu và câu chữ dài dòng” - Đây hẳn là suy nghĩ của rất nhiều em học sinh khi trải nghiệm những giờ học và cách ghi bài truyền thống của môn địa lí trong suốt thời gian qua. Làm thế nào để học tập môn địa lí có hiệu quả nhất trong điều kiện thầy cô đang tích cực đổi mới phương pháp dạy học, bộ giáo dục đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá? Sau khi tìm hiểu một số học sinh giỏi môn địa lí, tôi phát hiện ra một kỹ năng chung mà các em sử dụng trong học tập. Đó là việc các em luôn ghi bài theo nhiều cách phù hợp với từng cá nhân bằng các sơ đồ tư duy. Điều đó giúp cho các em sắp xếp kiến thức theo một cách riêng dễ hiểu, dễ nhớ hơn giảm thời gian ôn bài. a. Thiết lập nội dung của sơ đồ tư duy. Đây là bước đầu tiên và cũng thể coi là quan trọng nhất để có được 1 sơ đồ tư duy chính xác, dễ học. Đọc kĩ nội dung SGK, chia tách ý, theo cùng cấp độ, gạch chân những “từ chìa khóa”. - Căn cứ để chia tách ý: + Chia tách ý theo bài giảng của giáo viên ở trên lớp. + Chia tách ý theo nội dung SGK. - Căn cứ để tìm ra từ chìa khóa: dựa vào nội dung và bài học để tìm ra từng phần kiến thức quan trọng. b. Vẽ sơ đồ tư duy. + Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên giấy (đặt nằm ngang). Vẽ chủ đề ở trung tâm bằng chữ in hoa để làm nổi bật từ đó phát triển ra các ý khác. Có thể tự do sử dụng tất cả màu sắc mà em yêu thích. Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần được làm nổi bật dễ nhớ. Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng. 19
- + Bước 2: Vẽ các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm. Tiêu đề phụ nên vẽ gắn liền với trung tâm. Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc (chứ không nằm ngang) để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ toả ra một cách dễ dàng. + Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ. Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh. Bất cứ lúc nào có thể, các em hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian. Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho những từ thông dụng. Các em hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều cách viết tắt cho riêng các em. Mỗi từ khóa hay hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh. Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa. Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng (bằng cách vẽ nối ra từ một khúc). Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm. Tất cả các nhánh tỏa ra từ 1điểm (thuộc 1 ý) nên có cùng 1 màu.Thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn. + Bước 4: Hoàn thiện sơ đồ. Các em có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ của các em tốt hơn. Hình 6. Sơ đồ tư duy II.2. Phương tiện dạy học Phương tiện thường được sử dụng để dạy và học trong chuyên đề địa lí vùng Đồng bằng sông Hồng là các bản đồ (atlat, bản đồ giáo khoa, bản đồ treo tường), tranh ảnh, video, bảng số liệu, biểu đồ Sau đây là một số phương tiện chính thường được sử dụng. II.2.1 Atlat địa lí Việt Nam Atlat địa lí Việt Nam là một phương tiện dạy và học không thể thiếu của môn địa lí trong nhà trường phổ thông, đặc biệt là trong thi học sinh giỏi quốc gia. Có rất nhiều dạng bài tập liên quan đến Atlat địa lí Việt Nam. Khi giảng dạy chuyên đề ngành vùng Đồng bằng sông Hồng có thể trực tiếp sử dụng trang bản đồ 26, nhóm bản đồ địa lí tự nhiên, nhóm bản đồ các ngành kinh tế. 20

