Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phần lịch sử địa phương trong bộ môn giáo dục địa phương cho học sinh lớp 10
Bạn đang xem tài liệu "Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phần lịch sử địa phương trong bộ môn giáo dục địa phương cho học sinh lớp 10", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_giang_day_phan_lich_su.pdf
Nội dung tài liệu: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phần lịch sử địa phương trong bộ môn giáo dục địa phương cho học sinh lớp 10
- SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC GIANG TRƯỜNG THPT GIÁP HẢI -----***----- SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phần Lịch sử Địa phương trong bộ môn Giáo dục địa phương cho học sinh lớp 10 Môn: GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG Cấp học : THPT Tên tác giả : LÊ THỊ KIM THÚY Đơn vị công tác: Trường THPT Giáp Hải Bắc Giang, tháng 3 năm 2025
- CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng sáng kiến kinh nghiệm Trường THPT Giáp Hải Tỷ lệ (%) và nội dung đóng góp vào việc tạo ra Ngày Trình Nơi sáng kiến tháng Chức độ TT Họ và tên công (nếu là nhóm tác giả SK) năm danh chuyên tác Tỷ Nội dung đóng góp sinh môn lệ vào việc tạo ra (%) sáng kiến Đưa ra ý tưởng viết sáng kiến, hoàn thiện nội dung, khảo sát học THPT sinh, hoàn thiện Lê Thị 21/08/ Giáo 1 Giáp Đại học 100 sáng kiến kinh Kim Thúy 1980 viên Hải nghiệm về phương pháp nâng cao hiệu quả trong giờ dạy môn lịch sử địa phương. 1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phần lịch sử địa phương trong bộ môn giáo dục địa phương cho học sinh lớp 10. - Họ và tên: Lê Thị Kim Thúy - Điện thoại liên hệ của tác giả sáng kiến: 0363127018 - Email:ltkthuy.gh@bacgiang.edu.vn 2. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không có. 3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng giảng dạy. 4. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 10/2024
- 5. Các tài liệu kèm theo sáng kiến kinh nghiệm. 5.1. Thuyết minh mô tả giải pháp và kết quả thực hiện sáng kiến. 5.2. Quyết định công nhận sáng kiến cơ sở: Quyết định số / .. ngày ./ ../ ... của Hội đồng sáng kiến cấp . 5.3. Biên bản họp Hội đồng sáng kiến cơ sở. 5.4. Phiếu chấm điểm sáng kiến được áp dụng có hiệu quả phạm vi ảnh hưởng cấp tỉnh của thành viên Hội đồng KH&CN, Sở GD&ĐT. Bắc Giang, ngày 16 tháng 3 năm 2025 TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Lê Thị Kim Thúy
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến : Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy phần lịch sử địa phương trong bộ môn giáo dục địa phương cho học sinh lớp 10. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc thử nghiệm : Tháng 10/ 2024 3. Các thông tin cần bảo mật: không 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: Trong quá trình giảng dạy bộ môn lích sử địa phương như trước đây, bản thân tôi thấy còn tồn tại một số thực trạng sau Thực trạng học sinh không ham thích học lịch sử địa phương đang còn diễn ra nên dẫn đến tình trạng một số tiết học chưa đảm bảo được nội dung và yêu cầu của chương trình Các loại tài liệu như sử liệu thành văn, sử liệu vật chất hay hiện vật hoặc các nguồn sử liệu truyền miệng, dân gian chưa được giáo viên sử dụng nhiều trong dạy học. Bên cạnh đó, do điều kiện nên việc tổ chức các hình thức dạy học chưa phong phú. Việc dạy học lịch sử địa phương tại thực địa hoặc tổ chức ngoại khóa lịch sử địa phương tại thực địa hay các di tích lịch sử ít được tổ chức thực hiện. Việc tổ chức cho học sinh tham quan, học tập ở các di tích lịch sử chỉ diễn ra đối với các trường nằm ở trung tâm hoặc là gần các di tích Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành tìm hiểu và khảo sát thực tế 450 em học sinh khối 10 trường THPT Giáp Hải. Tôi nhận thấy: Học sinh trường tôi hầu hết bố mẹ làm nghề nông và làm công nhân chiếm tới 88%. Một số ít bố mẹ buôn bán và đi làm ăn xa, chiếm 12%. Nên việc giúp đỡ, nhắc nhở kèm cặp cho các em trong học tập là rất hạn chế. Nhất là việc tìm hiểu các di tích lịch sử, văn hóa ở địa phương chưa được gia đình và các em quan tâm tìm hiểu. - Chất lượng khảo sát đầu năm khối 10 năm 2023-2024 như sau: Bài Chưa Đạt Đạt Số HS T/S % T/S % Lịch sử 450 50 12 400 88 BM-SK02 Trang 3
- Địa phương - Trong những tiết học chuyên đề Lịch sử địa phương, tôi thấy 100% các em tập trung, hứng thú, ham thích học tập. Các em thấy bất ngờ, ngạc nhiên khi chính quê hương các em đã có những công trình, những di tích lịch sử từ lâu đời. Thông qua các hình ảnh, thông tin các em rất hứng thú, nên dạy Lịch sử địa phương được ứng dụng công nghệ thông tin đối với học sinh là rất thích hợp và cần thiết, chắc chắn sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục nói chung và Lịch sử địa phương nói riêng cho học sinh. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp, sáng kiến: - Trong bối cảnh việc dạy và học lịch sử của các nhà trường đang tồn tại nhiều bất cập như hiện nay, việc đưa lịch sử địa phương vào giảng dạy trong các nhà trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về các danh nhân, các di tích lịch sử văn hóa, anh hùng dân tộc của quê hương, qua đó giáo dục truyền thống, khơi dậy tình yêu quê hương đất nước trong các em học sinh. Việc giáo dục Lịch sử Địa phương cũng góp phần tăng sự hấp dẫn, thu hút các em học sinh đối với việc học môn lịch sử. - Nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt, học tốt nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử phát huy khả năng sáng tạo của giáo viên, giúp cho học sinh yêu thích môn Lịch sử, hiểu biết về lịch sử địa phương. - Nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh về lịch sử địa phương, góp phần thu hút sự quan tâm của các lực lượng xã hội tham gia giáo dục học sinh hiểu biết nhiều hơn nữa về di tích lịch sử, di tích nghệ thuật, văn hóa....ở xã địa phương mình như: Đình, chùa, lễ hội, hoạt động sản xuất của người dân. - Bên cạnh đó tăng cường khuyến khích động viên giáo viên học hỏi, trau dổi, truyền đạt, phổ biến kinh nghiệm trong việc giảng dạy phân môn Lịch sử, nhất là các tiết Lịch sử địa phương. - Hơn nữa trong những năm học gần đây cả nước đang tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Giang “Tiếp tục đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học”. Thực hiện “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”. Tôi thấy từ lứa tuổi Tiểu học được cần nâng cao chất lượng học tập lịch sử địa phương hơn nữa. BM-SK02 Trang 4
- Trong chương trình Giáo dục địa phương lớp 10 có 10 tiết dạy dành cho bộ môn lịch sử đó là chủ đề Di tích lịch sử văn hóa Bắc Giang gồm từ tiết 16 đến tiết 25 . Hơn nữa, người giáo viên cần hiểu rõ mục đích và tầm quan trọng của việc dạy Lịch sử Địa phương. Biết các vấn đề về lich sử địa phương, nguyên tắc và quy trình biên soạn tài liệu Lịch sử Địa phương. Xác định được cấu trúc tài liệu Lịch sử Địa phương và một số lưu ý về phương pháp khi dạy Lịch sử Địa phương. Có như vậy dạy Lịch sử Điạ phương mới gần gũi, hấp dẫn với học sinh. Dạy Lịch sử Điạ phương nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt, học tốt nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong trường THPT Giáp Hải, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy hoc môn Lịch sử phát huy khả năng sáng tạo của giáo viên giúp cho học sinh yêu thích môn Lịch sử, hiểu biết về lịch sử địa phương. Phát hiện, tuyên dương và nhân rộng những điển hình tiên tiến, góp phần tạo động lực nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, của địa phương, góp phần thu hút sự quan tâm của các lực lượng xã hội tham gia giáo dục học sinh. Dạy và học Lịch sử Địa phương cần có hình ảnh, tư liệu minh họa thực tế mỗi dịp cho học sinh đi thăm các di tích ở địa phương chính là đồ dùng dạy học vô cùng quý giá. Giúp học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đánh giá thực trạng việc dạy và học Lịch sử Địa phương, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. 6. Mục đích của sáng kiến Bản thân tôi làm sáng kiến này với mục đích là muốn nâng cao hiệu quả của giờ dạy học phần lịch sử đại phương trong môn Giáo dục địa phương cho học sinh lớp 10. Thông qua sáng kiến này tôi rất mong muốn được chia sẻ những biện pháp về giảng dạy môn giáo dục địa phương cho đồng nghiệp và được áp dụng rộng rãi trong hoạt động dạy học tại các trường THPT. Dạy lịch sử địa phương cho học sinh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về các danh nhân, các di tích lịch sử văn hóa, anh hùng dân tộc của quê hương, qua đó giáo dục truyền thống, khơi dậy tình yêu quê hương đất nước trong các em. Vì vậy, nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử Địa phương cũng góp phần tăng sự hấp dẫn, thu hút các em học sinh đối với việc học môn Giáo dục địa phương. 7. Nội dung 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến: BM-SK02 Trang 5
- Giải pháp 1: Giáo viên cần khai thác nguồn sử liệu liên quan đến nội dung trong chương trình lịch sử địa phương thông qua các nguồn sử liệu của địa phương, thông qua hình ảnh sưu tầm được hoặc thông qua các video - Giáo viên cần dành nhiều thời gian nghiên cứu, sưu tầm các hình ảnh để nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử địa phương trong nhà trường. - Tôi thấy những hình ảnh, tư liệu minh họa thực tế sinh động chính là đồ dùng dạy học vô cùng quý giá. Giúp học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn. Vì vậy, mỗi dịp cho học sinh đi thăm các di tích ở địa phương, tôi đều ghi chép các kiến thức, số liệu cụ thể làm minh chứng và cung cấp cho học sinh trong tiết học Lịch sử địa phương. Ví dụ: + Khi dạy về khu di tích lịch sử thành Xương Giang (thuộc thành phố Bắc Giang rất gần trường tôi công tác) Thành cổ Xương Giang nằm ở xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xương Giang là tên ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ XV (1407). Thành được xây bằng đất, các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông - Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc - Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dầy, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, mở 4 cửa, cửa chính trông về phía Tây. Khảo sát thực tế và hồ sơ di tích thì dấu tích ngôi thành cổ xưa nay còn lại không nhiều, tường thành cao hơn mặt ruộng khoảng 3- 4m, chân rộng 25m, mặt rộng từ 16- 20m, 04 góc có 4 pháo đài cao hơn mặt thành 4m nhô hẳn ra ngoài, ngoài thành là hệ thống hào bao bọc. Trong đợt khai quật lần đầu năm 2008, các nhà khảo cổ học Viện Khảo cổ học đã phác hoạ bước đầu về hệ thống các công trình kiến trúc của thành cổ Xương Giang. Theo sử sách, chiến thắng Xương Giang của quân và dân Đại Việt do Lê Lợi lãnh đạo, đập tan 10 vạn quân xâm lược Minh trong gần 1 tháng tại địa bàn Lạng Sơn và Bắc Giang ngày nay. Với bốn trận thắng lớn: trận ngày 10/10 đập tan quân tiên phong và chém chết Thái tử Liễu Thăng tại cửa ải Chi Lăng; Trận ngày 15/10 đánh tan quân giặc tại Cần Trạm (Hương Sơn- Lạng Giang), buộc tướng giặc Bảo Định Bá Lương Minh phải tự vẫn; trận Hố Cát ngày 18/10 (thuộc Vôi, Xương Lâm, Phi Mô- Lạng Giang), làm cho viên Thượng thư Lý Khánh phải tự tử và trận Xương Giang ngày 3/11/1427 diễn ra trên cánh đồng Xương Giang (thuộc các xã Tân Dĩnh, Xuân Hương, Mỹ Thái huyện Lạng BM-SK02 Trang 6
- Giang và Thọ Xương, thành phố Bắc Giang) sau 10 ngày vây hãm, nghĩa quân đã đánh tan hơn bảy vạn quân giặc do Thôi Tụ và Hoàng Phúc chỉ huy, buộc quân Minh ở Đông Đô (Hà Nội) phải xin hàng rút về nước. Chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn – Lê Lợi do tướng Trần Nguyên Hãn chỉ huy, chiếm thành Xương Giang và phá tan đạo quân của Liễu Thăng, góp phần quan trọng làm nên chiến thắng lịch sử, lật đổ ách thống trị bạo tàn của nhà Minh kéo dài 20 năm và là chiến thắng quyết định cho nền độc lập của dân tộc ta ở thế kỷ thứ XV. Trận công thành của nghĩa quân Lam Sơn ngày 28/9/1427 và trận diệt viện oanh liệt ngày 3/11/1427 mà Lê Quý Đôn đánh giá: Từ triều Trần bắt được Tích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi cho đến lúc ấy, nước Nam thắng giặc phương Bắc chưa có trận nào lớn như vậy (theo Đại Việt thông sử). Thành Xương Giang được coi như trung tâm của chiến trận và sau đó còn chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng của quê hương đất nước, nhất là cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Hữu Cầu (Quận He) xảy ra vào nửa sau thế kỷ 18. Để kỷ niệm lịch sử chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn tại thành Xương Giang, hàng năm tỉnh Bắc Giang tổ chức lễ hội vào ngày 6-7 tháng Giêng. Trong lễ hội có nhiều nghi lễ và trò vui đặc sắc. Trước ngày khai hội, tối mồng 5 tháng Giêng, thanh niên tổ chức đốt lửa trại. Tại các đình, chùa, đền, miếu và nhà văn hoá đèn đuốc suốt đêm để tới canh năm hôm sau tề chỉnh săp hàng ngũ, chiêng trống kéo về nơi khai hội. Sáng sớm ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch, các đoàn người từ các phường xã, giương cờ, gióng trống, xe kiệu với quần áo rực rỡ, tề chỉnh từ các ngả đường lần lượt tiến về trung tâm khai hội Với ý nghĩa lịch sử đó, ngày 22-01-2009, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch đã có Quyết định số 293/QĐ-BVHTT-DL xếp hạng thành Xương Giang là di tích lịch sử chiến thắng Xương Giang cấp Quốc gia. Tại đây có 14 điểm di tích là: Cửa đông bắc, cửa đông, cửa bắc, cửa tây nam, cửa nam, khu trung tâm, dấu vết thành, đoạn sông Xương Giang chảy qua thành; địa điểm khai quật khảo cổ học số 2, 3, giếng Phủ, đền Thành và 2 điểm ngoài khu bảo vệ là: cửa đông nam, cửa tây. Các điểm di tích được bảo vệ nằm rải rác ở các vị trí xen kẽ là khu dân cư các thôn Đông Giang, Nam Giang, Trại Bắc thuộc xã Xương Giang. Ngoài ra còn có một phần diện tích Trường Trung cấp Văn hoá - Thể thao và Du lịch, Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Giang... BM-SK02 Trang 7
- Với những giá trị đã được thừa nhận trong lịch sử, sự đồng thuận của các cấp, các ngành và nhân dân, di tích lịch sử địa điểm chiến thắng Xương Giang mãi là niềm tự hào của nhân dân Bắc Giang nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung trong lịch sử hào hùng chống giặc ngoại xâm của đất nước./. Hình ảnh thành Xương Giang - Hiện nay nhà trường đầu tư máy chiếu Powerpoint, ti vi màn hình rộng, máy ảnh kỹ thuật số, máy tính xách tay, tôi thấy đây là điều kiện cơ sở vật chất tốt nhất để giúp chúng tôi giảng dạy Lịch sử địa phương đạt hiệu quả cao. Việc đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học của nhà trường càng đầy đủ thì việc dạy Lịch sử Địa phương cho học sinh càng thuận lợi. - Bên cạnh những trang thiết bị mà nhà trường đã đầu tư, tôi đã tích cực sưu tầm các tài liệu, minh chứng phục vụ các kiến thức lịch sử địa phương ở khối lớp mình dạy. Tìm hiểu các câu chuyện, các nhân vật lịch sử, di tích lịch sử, di tích nghệ thuật, văn hóa và tự học hỏi, tìm tòi, khám phá những thông tin, nội dung cần cung cấp cho học sinh về Lịch sử địa phương. Việc sưu tầm tài liệu, minh chứng đòi hỏi người giáo viên phải thực sự yêu nghề, tâm huyết. Chủ động dành thời gian vào nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu tiết dạy nên tôi đã thực hiện thành công. + Ví dụ khi dạy về chùa Bổ Đà thuộc thị xã Việt Yên chúng ta có thể khai thác tư liệu sau: Nằm trên dãy Bổ Đà sơn huyện Việt Yên, Khu di tích chùa Bổ Đà là một danh lam cổ tự nổi tiếng của vùng Kinh Bắc xưa, nay thuộc xã Tiên Sơn (Việt BM-SK02 Trang 8
- Yên, Bắc Giang), đặc biệt nơi đây có vườn tháp lớn nhất Việt Nam chôn giữ tro cốt của hơn 1.000 vị tăng, ni từ 300 năm trước. Khu nội tự (chùa chính Tứ Ân) của Chùa Bổ Đà. Tương truyền, chùa Bổ Đà có từ thời Lý, khoảng thế kỷ thứ XI. Vào thời vua Lê Dụ Tông (1720-1729) đã được tu tạo lớn. So với các ngôi chùa truyền thống khác ở miền Bắc, chùa Bổ Đà có kiến trúc độc đáo và khác biệt. Chùa được xây theo kiểu kiến trúc nội công ngoại quốc. Vì điều ấy mà vẻ thanh tĩnh, u linh càng trở nên rõ nét. Chùa của hiện tại gồm 16 toà nhà lớn nhỏ với 92 gian đầy đủ chức năng như nhà tạo soạn, nhà tổ, nhà pháp, nhà khách, toà tam bảo,... Vẫn được ứng dụng lối kiến trúc truyền thống, tòa tam bảo xây lối chữ Đinh, hậu cung gồm 5 gian, tiền đường 7 gian. Bậc thềm lát đá xanh. Những dấu vết bạc màu thời gian cho thấy công trình khởi dựng thời Lê - Nguyễn đến nay vẫn nguyên vị trí ban đầu. Khu nội tự (chùa chính Tứ Ân) Được xây dựng vào thời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740- 1786) do vị sư tổ họ Ngô, tự là Tính Ánh cùng nhân dân địa phương hưng công xây dựng với hàm nghĩa răn dạy phật tử phải biết báo đáp bốn ân (ơn): Ân trời đất, Ân đất nước, Ân thầy và Ân cha mẹ. Am Tam Đức - Sự thông tuệ Trí - Đoạn - Ân BM-SK02 Trang 9
- Mỗi một công trình tại khu quần thể di tích Bổ Đà Sơn đều mang ý nghĩa sâu sắc, am Tam Đức cũng vậy. Nơi này được xây dựng vào thời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786). Tam Đức đại diện cho sự thông tuệ của ba đức tính: Trí đức - Đoạn đức - Ân đức. Am Tam Đức thờ tổ Như Thị (thường gọi Phạm Kim Hưng), là người giàu đức hy sinh và công lao tu bổ, mở mang chùa Bổ Đà. Vườn tháp chùa Bổ Đà là một trong những vườn tháp đẹp và lớn nhất Việt Nam, gồm 110 ngôi tháp và mộ lớn nhỏ khác nhau. Chùa Cao - Sự tích người tiều phu thiện lương Theo dân gian, chùa Cao được xây dựng từ thế kỷ XI gắn liền với sự tích người tiều phu hiền lành, chất phác. Thuở đầu, nơi đây là một gian chùa nhỏ lợp gianh vách đất toạ trên đỉnh non Bổ Đà. Người dân thường gọi đây là chùa ông Bổ hoặc chùa Bổ Đà bởi vị trụ chì Phạm Kim Hưng đã có nhiều công lao trong việc trùng tu toà chính điện, thiêu hương lẫn tiền đường và dựng cột đá lẫn cột gỗ. Ao Miếu - Nơi đá thiêng thờ Thạch Linh Tại khu Ao Miếu của thôn Hạ Lát nổi lên các khối đá lớn nằm xen kẽ lên nhau giữa một ao nhỏ gọi là Thạch Long. Người ta truyền rằng, mẹ đá nơi này sinh ra Thạch Linh Thần Tướng. Khi ấy, giặc Man nổi dậy làm nhiễu biên thuỳ, Thạch Linh Tướng Quân xin vua đi đánh giặc. Sau khi thắng trận, Thạch Tướng trở về đỉnh Phượng Hoàng ở dãy Bổ Đà và hoá tại đây. Dân chúng nhớ ơn mà lập nơi thờ phụng, dâng hương. BM-SK02 Trang 10
- Vườn tháp chùa Bổ - Vườn tháp cổ kính, rêu phong lớn nhất Việt Nam Tại chùa Bổ Đà, du khách hành hương ấn tượng với vườn tháp đẹp và lớn nhất cả nước. Nơi đây có tất cả 110 ngôi tháp và mộ to nhỏ khác nhau. Không chỉ vậy, trong vườn tháp này còn có 97 ngôi tháp cổ hàng trăm năm tuổi, là nơi lưu giữ tro cốt xá lỵ của 1214 tăng ni phật tử của thiền phái Lâm Tế trong cả nước. Với diện tích gần 8.000m2, khu vườn tháp được bao bọc bởi một bức tường dài xây từ đá núi và gạch chỉ. Được hun đúc từ "xương cốt" núi Bổ Đà, dường như điều ấy mang đến cho khu vườn vẻ u tịch, trầm lắng của nơi thâm sơn. Cổng vào chùa với nền lát đá muối nhiều kích thước khác nhau. Trong khuôn viên chùa còn cất giữ nhiều bia đá, chuông đồng, hoành phi và đến 39 pho tượng gỗ thời Lê Trung Hưng giàu giá trị lịch sử lẫn mỹ thuật xưa. Đây là nơi tu hành, cũng là trung tâm đào tạo các tăng ni thuộc thiền phái Lâm Tế của vùng Kinh Bắc xưa. Bên cạnh chốn tổ Vĩnh Nghiêm ở huyện Yên Dũng, có thể nói sơn môn Bổ Đà là chốn tổ, trung tâm Phật giáo lớn thứ hai ở Bắc Giang, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá và duy trì phát triển đạo Phật mà thiền phái Lâm Tế là chủ đạo. Để phục vụ cho việc tu tập, đào tạo các tăng, ni, nhà chùa đã tổ chức san khắc gần 2000 mộc bản bằng chất liệu gỗ thị có niên đại từ thời vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) và các giai đoạn sau này, góp phần làm BM-SK02 Trang 11
- cho kho tàng pháp bảo của Phật giáo Việt Nam càng thêm phong phú. Kho mộc bản nằm ở khu hậu viện của chùa. Đặc biệt là những tấm gỗ thị dùng để khắc kinh đều rất bền, đẹp, không bị mối mọt, dù không dùng một loại thuốc bảo quản nào. Kinh được khắc nổi bằng chữ Hán, nét chữ tinh xảo, đến nay vẫn còn rất sắc nét. Với giá trị đặc biệt tiêu biểu, di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Chùa Bổ Đà (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 2499/QĐ-TTg ngày 22/12/2016. Hội thi hát quan họ: Hội chùa Bổ Đà hàng năm được tổ chức từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 2 âm lịch, đó cũng là ngày giỗ tổ khai sơn lập ra chùa Bổ Đà. Trung tâm lễ hội diễn ra ở khu vực Bổ Đà, người dân trong vùng tổ chức lễ tế ở đền Hạ sau đó lên đền Trung và đền Thượng thắp hương và vãn cảnh chùa. Trên sân chùa, các đoàn hát biểu diễn liên tục suốt mấy ngày đêm. Những canh hát quan họ, mời trầu, mời nước của các liền anh liền chị làm cho không khí ngày hội thêm vui tươi nhộn nhịp./. - Hiện nay nhà trường đầu tư máy chiếu Projector, ti vi màn hình rộng, máy ảnh kỹ thuật số, máy tính xách tay, tôi thấy đây là điều kiện cơ sở vật chất tốt nhất để giúp chúng tôi giảng dạy Lịch sử địa phương đạt hiệu quả cao. Việc đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học của nhà trường càng đầy đủ thì việc dạy Lịch sử Địa phương cho học sinh càng thuận lợi. - Bên cạnh những trang thiết bị mà nhà trường đã đầu tư, tôi đã tích cực sưu tầm các tài liệu, minh chứng phục vụ các kiến thức lịch sử địa phương ở khối lớp mình dạy. Tìm hiểu các câu chuyện, các nhân vật lịch sử, di tích lịch sử, di tích nghệ thuật, văn hóa và tự học hỏi, tìm tòi, khám phá những thông tin, nội dung cần cung cấp cho học sinh về Lịch sử địa phương. Việc sưu tầm tài liệu, minh chứng đòi hỏi người giáo viên phải thực sự yêu nghề, tâm huyết. Chủ động dành thời gian vào nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu tiết dạy nên tôi đã thực hiện thành công. Giải pháp 2: Dạy Lịch sử địa phương gắn với thực tế ở địa phương. Thực tế cho thấy tại các di tích lịch sử hoặc gặp gỡ các nhân chứng lịch sử của địa phương đã tạo thêm niềm đam mê về môn học Lịch sử trong mỗi học sinh. Mặt khác, nó giúp các em hình thành cơ sở ban đầu, như một "sức đề kháng "chống lại sự xâm nhập của những cái xấu từ bên ngoài và gột rửa những cái xấu đã bị tiêm nhiễm, những cái đã đi ngược với chuẩn mực đạo đức mà xã hội đã quy định. BM-SK02 Trang 12
- Để việc học Lịch sử địa phương của các em đạt hiệu quả cao, trở thành bài học bình thường như các bài học khác hằng ngày của các em thì đòi hỏi người giáo viên phải tổ chức tốt tiết ngoài giờ lên lớp như Hoạt động tập thể. Vì qua tiết học đó giúp các em hình thành được thao tác, hành động phù hợp với kiến thức rút ra từ tiết học trước. Chính vì vậy, trong các tiết dạy thực tế về Lịch sử địa phương, tôi đã tuân theo phương hướng và mục đích sau: - Tiết học thực tế phải nhằm mục đích, yêu cầu phù hợp với nội dung bài học đó. - Học sinh phải nắm vững kiến thức Lịch sử địa phương. - Học sinh phải được mắt thấy, tai nghe về các số liệu, hình ảnh, chi tiết lịch sử ở địa phương. - Khi dạy Lịch sử địa phương giáo viên cần nêu rõ vị trí, đặc điểm, những yêu cầu cần đạt trong trong từng nội dung kiến thức bài Lịch sử địa phương. - Học sinh được đi thực tế dưới sự chỉ đạo của giáo viên và quy định của di tích đó. Ví dụ: Khi dẫn các em học sinh thăm đền thờ Hoàng Ngũ Phúc tại thôn Tân Phượng xã Tân Mỹ thành phố Bắc Giang cần giáo dục cho các em lòng biết ơn, tính trang nghiêm, ý thức trách nhiệm khi đến nơi đây. Các em được tận mắt quan sát, chứng kiến sự trang nghiêm đó. Từ đó khơi dậy lòng biết ơn, niềm tự hào đối với những người con của quê hương. Trong buổi thăm đền thờ Hoàng Ngũ Phúc tại địa phương này các em được nghe cô giáo giới thiệu về nhân vật Hoàng Ngũ Phúc như sau: . Hoàng Ngũ Phúc (1713 – 1776) - danh tướng thời Lê Trung Hưng Ông quê ở xã Phụng Công, huyện Yên Dũng (hiện nay là thôn Tân Phượng, xã Tân Mỹ, huyên Yên Dũng, Bắc Giang, Việt Nam). Hoàng Ngũ Phúc có công lớn trong việc đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài và là tổng chỉ huy cuộc nam tiến đánh Đàng Trong, mở mang đất đai Bắc Hà tới Quảng Nam. Hoàng Ngũ Phúc xuất thân là hoạn quan, nổi tiếng là người có nhiều mưu kế. Trước ông giữ chức tả thiếu giám, sung giữ chức nội sai trong Hình phiên. Nhờ công lao đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa, Hoàng Ngũ Phúc được phong làm Việp quận công, thường gọi là quận Việp. Năm 1754, Thượng thư bộ Binh Phạm Đình Trọng chết sớm, Hoàng Ngũ Phúc trở thành vị tướng quan trọng nhất của triều đình. Uy tín của ông trong triều rất lớn khiến nhiều người dị nghị rằng ông sẽ lộng hành chiếm quyền chúa Trịnh. BM-SK02 Trang 13
- Trong lịch sử Việt Nam, ngoài Lý Thường Kiệt, có lẽ chỉ có Hoàng Ngũ Phúc là tướng xuất thân từ hoạn quan có tài kiêm văn võ và có nhiều quân công (các bạn lưu ý: Tả quân Lê Văn Duyệt không phải hoạn quan mà là bị khiếm khuyết từ nhỏ). Tuy nhiên, do thành tích của ông chỉ trong nội chiến, còn cụ Lý Thường Kiệt lập công trong chống ngoại xâm nên cụ Lý Thường Kiệt nổi tiếng hơn ông. Hoàng Ngũ Phúc làm tướng nghiêm túc, cẩn trọng, có uy tín. Khi lâm trận, ông là người quả đoán. Những người trưởng thành dưới tay ông như Hoàng Đình Bảo, Nguyễn Hữu Chỉnh sau đều là những người nổi tiếng, ngang dọc thiên hạ, dù đều không được trọn vẹn như ông. Sở dĩ quận Việp được trọn vẹn toàn danh, ngoài hoàn cảnh khách quan (khi thế nước Đàng Ngoài còn mạnh) còn do ông là người biết ứng xử, tiến lui đúng lúc không chỉ trong chính trường mà cả ngoài chiến trường. Không chỉ là người có công ổn định tình hình Bắc Hà, Hoàng Ngũ Phúc còn có công mở mang đất đai Bắc Hà xuống phía nam, lần đầu tiên đánh bật chúa Nguyễn khỏi đất Thuận-Quảng, khôi phục lại cương thổ nhà Hậu Lê như thời Lê Sơ, điều mà bao thế hệ chúa Trịnh trước chưa làm được. Nhưng dường như cũng chỉ có ông là người hiểu mình và hiểu người, biết lui tiến ngoài mặt trận. Học sinh khối 10 trường THPT Giáp Hải học lịch sư địa phương tại đền Hoàng Ngũ Phúc- Tân Mỹ- Bắc Giang BM-SK02 Trang 14
- Học sinh khối 10 trường THPT Giáp Hải học lịch sư địa phương tại đền Hoàng Ngũ Phúc- Tân Mỹ- Bắc Giang Giải pháp 3: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy Lịch sử địa phương. - Trong môn Lịch sử kênh hình vô cùng quan trọng đối với học sinh. Vì thế, tôi cũng tập trung nghiên cứu và tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy Lịch sử địa phương. Dạy học bằng bài giảng điện tử, trực tiếp đưa vào bài giảng những hình ảnh, tư liệu minh họa thực tế sinh động. Được nhà trường quan tâm trang bị cho máy chiếu Projector, ti vi,máy ảnh kỹ thuật số, máy tính xách tay, hệ thống máy vi tính được nối mạng Internet, tôi đã không ngừng học hỏi đồng nghiệp và tự học để ứng dụng công nghệ thông tin vào các giờ dạy. - Tôi rất coi trọng việc tự học. Trong sổ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ hàng tuần, hàng tháng tôi đã ghi chép phần tự học: Trên sách, báo, truyền hình, học kinh nghiệm của đồng nghiệp. Nhà trường tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, tôi đã tích cực soạn bài bằng giáo án điện tử, thiết kế được bài giảng điện tử thực hiện dạy trong tiết học. Hầu như tiết học lịch sử địa phương nào tôi cũng dùng công nghệ thông tin và cho học sinh xem BM-SK02 Trang 15
- video về các di tích lịch sử của tỉnh Bắc Giang. Và hầu hết học sinh đều cảm thấy hứng thú trong giờ học. Và sau khi học xong chương trình lịch sử địa phương lớp 10 thì các em đều biết được các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh của tỉnh nhà. Và rất nhiều em đã từng đi khám phá được rất nhiều khu di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh trong tỉnh Bắc Giang. Mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục bổ ích và lý thú. Học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân. Các em hứng thú, say mê hợc tập hơn. - Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học. Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những công việc mang tính trí tuệ cao trên những lĩnh vực khác nhau. Những thông tin, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, học sinh có thể có những dự đoán về những kiến thức mới. Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh trong việc dạy Lịch sử địa phương. Từ những suy nghĩ trên tôi cố gắng biến các tiết Lịch sử địa phương thành một hoạt động sinh động của trò, dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Tuỳ theo nôi dung từng bài mà học sinh được quan sát, theo dõi, nắm bắt thông tin đầy đủ. Trước hoặc sau khi đưa ra nội dung, kiến thức Lịch sử nào tôi thường cho các em quan sát hình ảnh hoặc xem các đoạn video trên màn hình do tôi xây dựng được ở từng bài: Ví dụ: Khi dạy về khu ATK 2 của huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang thì tôi cũng cung cấp cho học sinh những hình ảnh về khu ATK2 BM-SK02 Trang 16
- Ngoài những hình ảnh trên tôi còn cung cấp cho học sinh những video tư liệu về ATK 2 của chương trình địa chỉ đỏ: - Việc hướng dẫn học sinh cách học bộ môn lịch sử theo từng loại bài: việc thầy và trò chuẩn bị sưu tầm tài liệu, tranh ảnh, tư liệu lịch sử tất cả đều nhằm phục vụ cho việc dạy học ở trên lớp với mục đích qua bài học học sinh phát huy được tính tích cực của mình thông qua phân môn lịch sử. Trước kia chúng ta thường quan niệm học Lịch sử là phải học thuộc, nạp vào bộ nhớ của học sinh theo lối “thầy đọc, trò chép, học thuộc lòng theo thầy, theo sách giáo khoa là đạt yêu cầu”. Nhưng học tập Lịch sử theo quan niệm hiện nay không phải là theo cách trên mà là: học sinh thông qua làm việc với sử liệu mà tái hiện ra hình ảnh lịch sử, tự xậy dựng, tự hình dung về quá khứ lịch sử đã diễn ra. Cơ sở nhận thức cá thể, độc lập đó, bằng các biện pháp (học theo nhóm, học cả lớp, đối thoại thầy trò...) mà học sinh xây dựng sự nhận thức đúng đắn về môn Lịch sử và nhất là Lịch sử địa phương. Giải pháp 4: Tuyên truyền các phương pháp giáo dục cho học sinh tự học. BM-SK02 Trang 17
- - Để phát huy tính tích cực của học sinh trong phần lịch sử địa phương thì việc lựa chọn phương pháp dạy học và hướng dẫn học sinh cách học là rất quan trọng. Giáo viên phải lựa chọn phương pháp sao cho phù hợp với từng bài, với từng đối tượng học sinh sao cho học sinh phải tự khám phá ra kiến thức (dưới sự hướng dẫn của giáo viên) vì hoạt động của trò là quá trình tự giác, tích cực, tự vận động, nhận thức và phát triển nhưng phải được điều khiển. Vì vậy, tôi đã hướng dẫn học sinh cách tự học bộ môn Lịch sử địa phương. Với dạng bài nói về di tích lịch sử: Tôi thường yêu cầu học sinh sưu tầm tranh ảnh hoặc tư liệu hoặc có thể trực tiếp đến khu di tích đó để quay video và giưới thiệu về sản phẩm của mình trước lớp với vai trò là một hướng dẫn viên du lịch . Video học sinh giới thiệu về một công trình kiến trúc Từ ví dụ trên cho thấy việc tự học của học sinh nhằm phát huy tính tích cực của các em. Kích thích tính hiếu học, ham hiểu biết cho học sinh tiểu ở môn Lịch sử nói chung và lịch sử địa phương nói riêng. Giải pháp 5: Khuyến khích học sinh mở rộng địa bàn để tìm hiểu Lịch sử. Tất cả các biện pháp nêu trên đã giúp học sinh hiểu sâu về Lịch sử của địa phương mình. Song Lịch sử cũng như các môn học khác, khi học các em được mở rộng hiểu biết, được biết nhiều các di tích lịch sử, các nhân vật lịch sử sẽ gây hứng thú và thu hút học sinh học hơn. Vì vậy, trong giờ học Lịch sử nói chung và Lịch sử địa phương nói riêng, tôi luôn khơi gợi để học sinh phát huy hết hiểu biết của mình và muốn khám phá. BM-SK02 Trang 18
- Ví dụ: Trong lớp có những học sinh có quê ngoại không cùng xã. Tôi đã chủ động gợi mở để các em đó kể cho bạn nghe về quê ngoại mình có Di tích lịch sử gì? Lễ hội vào ngày nào? *Khi được nghe kể về một di tich lịch sử của quê hương, học sinh rất tự hào về quê hương mình. Và qua các câu chuyện, lời giới thiệu của các bạn đã thu hút học sinh yêu thích và ham muốn tìm hiểu nhiều hơn về Lịch sử của quê hương mình. * Kết quả của sáng kiến Từ một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy Lịch sử Địa phương cho học sinh lớp 10 trường THPT Giáp Hải, tôi thấy các em thể hiện rõ qua các mặt sau: - Biết tự hào về truyền thống, thể hiện tình yêu quê hương đất nước. - Tăng sự hấp dẫn, thu hút các em học sinh đối với việc học môn lịch sử và nhất là Lịch sử địa phương. - Các em thích đến tham quan, học tập thực tế ở địa phương và hứng thú với việc học hơn. - Biết giữ gìn, chăm sóc, bảo vệ các công trình công cộng, di tích lịch sử, văn hóa ở địa phương. - Học sinh đi học chuyên cần, đến lớp đúng giờ, ăn mặc sạch sẽ, gọn gàng hơn. - Biết đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Đến lớp không khí học tập vui tươi, thoải mái, tự tin hơn. - Biết quảng bá, giới thiệu với mọi người về: Di tích lịch sử, Danh lam thắng cảnh, sản vật quê hương mình. - Biết giữ gìn và bảo vệ trường lớp xanh - sạch - đẹp. Cụ thể như các lớp 10A1,2,5,8,10 Ngoài ra còn nhiều em còn thường xuyên đến đình, chùa là di tích lịch sử của địa phương để quét dọn, chăm sóc. Qua môn Lịch sử địa phương, các em được mắt thấy tai nghe, được quan sát thực tế để lĩnh hội kiến thức lịch sử của chính quê hương các em. Từ đó, các em hứng thú học tập các môn học khác, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đặc biệt môn Lịch sử các em hứng thú học tập hơn những năm học trước rất nhiều. Giờ học Lịch sử địa phương hiện nay các em học thật sự nhẹ nhàng, tự nhiên, thoải mái và hiệu quả. Chính vì thế mà kết quả học tập Lịch sử Địa phương của học sinh khối 10 trường tôi khảo sát năm học 2023-2024 như sau: BM-SK02 Trang 19

