Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng nói, nghe về một vấn đề xã hội cho học sinh lớp 10 (Theo định chương trình SGK mới)

doc 27 trang Bảo Vy 10/01/2026 90
Bạn đang xem tài liệu "Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng nói, nghe về một vấn đề xã hội cho học sinh lớp 10 (Theo định chương trình SGK mới)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docmot_so_bien_phap_ren_luyen_ki_nang_noi_nghe_ve_mot_van_de_xa.doc

Nội dung tài liệu: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng nói, nghe về một vấn đề xã hội cho học sinh lớp 10 (Theo định chương trình SGK mới)

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH BẮC GIANG TRƯỜNG THPT CHUYÊN ****** SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2022 – 2023 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI – NGHE VỀ MỘT VẤN ĐỀ XÃ HỘI CHO HỌC SINH LỚP 10 (THEO CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA PHỔ THÔNG MỚI) Họ và tên: Trần Thị Liên Môn giảng dạy: Ngữ Văn Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Bắc Giang Bắc Giang, tháng 03 năm 2023 1
  2. THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Tên biện pháp: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng nói – nghe về một vấn đề xã hội cho học sinh lớp 10 (theo định chương trình SGK mới) 2. Thời gian biện pháp được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ tháng 9/2022 đến tháng 3/2023. 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): không. 4. Mô tả các biện pháp cũ thường làm Nói - nghe là một trong các kĩ năng được chú trọng và rèn luyện trong chương trình môn Ngữ Văn phổ thông (cấp 2,3). Việc rèn luyện này trước hết được tiến hành trong các giờ học dành cho luyện nói: Luyện nói kể chuyện, thi kể chuyện, luyện nói quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả (lớp 6); Phát biểu cảm nghĩ, giải thích một vấn đề (lớp 7); Thuyết trình, luyện nói thuyết minh (lớp 8); Luyện sử dụng các phương châm hội thoại (lớp 9); Trình bày một vấn đề (lớp 10); Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn (lớp 11); Phát biểu tự do, phát biểu theo chủ đề (lớp 12). Tuy nhiên, có thể thấy thời lượng dành cho phần này không nhiều. Trong ba năm THPT, chỉ có vài tiết (khoảng 5-6 tiết) hướng dẫn, thực hành nói – nghe. Do thời gian rất hạn chế nên hầu như HS chỉ được tìm hiểu sơ qua về lí thuyết, thời gian vận dụng, thực hành không nhiều. Và chỉ có một số ít HS được trực tiếp tham gia nói. Vì vậy, đa số HS không được rèn luyện nhiều kĩ năng nói – nói nghe. 5. Sự cần thiết phải áp dụng biện pháp: Năm 2018, Bộ GD-ĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 với mục tiêu “giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại” (Bộ GD- ĐT, 2018). Để đạt được mục tiêu này, chương trình đã đưa ra những quy định yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực cốt lõi và tập trung nâng cao 4 kĩ năng Nghe, 2
  3. Nói, Đọc, Viết. Như vậy, một trong những kĩ năng mà Chương trình phổ thông 2018 hướng tới ở HS trung học phổ thông là kĩ năng nghe và nói. Lộ trình dạy học kĩ năng nói và nghe trong chương trình có sự nhất quán, liên tục cả ba cấp học. Ở cấp THPT, Chương trình định hướng người dạy tiếp tục phát triển các năng lực đã hình thành ở cấp trung học cơ sở với các yêu cầu cần đạt cao hơn: Nói và nghe linh hoạt; có khả năng nghe và đánh giá được nội dung cũng như hình thức biểu đạt của bài thuyết trình; có chủ kiến, cá tính, có thái độ tranh luận phù hợp Chương trình GDPT 2018 quy định cụ thể về các kĩ năng cần đạt trong học tập nói và nghe ở cấp phổ thông như sau: Kĩ năng nói yêu cầu về âm lượng, tốc độ, sự liên tục, cách diễn đạt, trình bày, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ, điệu bộ, phương tiện hỗ trợ khi nói,...; Kĩ năng nghe yêu cầu về cách nghe, cách ghi chép, hỏi đáp, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ, điệu bộ khi nghe, nghe qua các phương tiện kĩ thuật, ; Kĩ năng nói và nghe tương tác gồm các yêu cầu về thái độ, sự tôn trọng nguyên tắc hội thoại và các quy định trong thảo luận, phỏng vấn Thực tế cho thấy, năng lực giao tiếp của HS THPT còn nhiều hạn chế, đặc biệt là kĩ năng nói và nghe. HS còn ngại ngùng khi giao tiếp, chưa dám mạnh dạn thể hiện quan điểm của mình hay bác bỏ quan điểm của người khác. Vì vậy, GV cần tích cực đổi mới phương pháp dạy học để kích thích sự hứng thú của HS, giúp HS cải thiện một số kĩ năng giao tiếp. Mặt khác, văn nghị luận nói chung và văn nghị luận xã hội nói riêng là kiểu văn bản chiếm vị trí quan trọng trong môn Ngữ văn ở trường phổ thông. Tuy nhiên, việc dạy học văn bản nghị luận xã hội từ trước đến nay chủ yếu tập trung vào dạy học đọc hiểu và dạy viết, việc dạy nói và nghe chưa được quan tâm đúng mức. Xuất phát từ thực tế trên, người viết muốn đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng nói - nghe về một vấn đề xã hội cho HS lớp 10 (theo chương trình SGK THPT mới). 3
  4. 6. Mục đích của biện pháp Mục tiêu của chương trình SGK phổ thông 2018 là “giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại” (Bộ GD-ĐT, 2018). Rèn kỹ năng nói và nghe về một vấn đề xã hội nhằm phát triển năng lực giao tiếp; từ đó góp phần rèn giũa phẩm chất, thái độ, tình cảm, lối sống có văn hóa cho học sinh. Thứ nhất, dựa trên những cơ sở khoa học về quá trình dạy học, phương pháp dạy học cũng như dựa trên cơ sở thực tế giảng dạy, người viết hình thành một số các giải pháp mới, có tính cụ thể, áp dụng phù hợp vào thực tiễn để hình thành kĩ năng nghe - nói cho học sinh. Thứ hai, các giải pháp nhằm khắc phục, bổ sung những hạn chế của phương pháp truyền thống trước đây, hình thành cho học sinh các phương pháp và kĩ thuật nói - nghe, kĩ năng xác định vấn đề xã hội để trình bày, chuẩn bị nội dung nói; tham gia quá trình thảo luận, biết phản biện, lắn nghe và biết vận dụng kiến thức đã học vào các tình huống thực tiễn. Với giáo viên, các giải pháp và cách làm được đề xuất còn nhằm gợi mở một số cách thức, con đường hình thành kĩ năng nói - nghe cho học sinh của mình, nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học theo chương trình SGK mới. 7. Nội dung 7.1. Thuyết minh các giải pháp 7.1.1. Giải pháp 1: Rèn kĩ năng nói nghe gắn với hoạt động quan sát và phân tích mẫu Rèn luyện kĩ năng nói và nghe là nhằm giúp học sinh có khả năng diễn đạt, trình bày bằng ngôn ngữ nói một cách rõ ràng, tự tin; có khả năng hiểu đúng; biết tôn trọng người nói, người nghe; có thái độ phù hợp trong trao đổi, thảo luận. 4
  5. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh quan sát, phân tích mẫu. GV giới thiệu, cho học sinh xem một số video ngắn về hoạt động nói – nghe (Chương trình: Trường Teen, Thiếu niên nói...). HS theo dõi, quan sát, lắng nghe để nắm bắt nội dung, phương pháp, thứ tự các bước nói – nghe, chú ý cả tác phong, giọng nói, các yếu tố phi ngôn ngữ... Giáo viên hướng dẫn học sinh cách nắm bắt được nội dung nghe, cách hiểu và đánh giá quan điểm, ý định của người nói; cách kiểm tra những thông tin chưa rõ; có thái độ nghe tích cực và tôn trọng người nói, tôn trọng những ý kiến khác biệt; cách hợp tác, giải quyết vấn đề với thái độ tích cực. Tiếp đó, GV hướng dẫn HS rút ra nhận xét về cách làm và tổ chức cho học sinh thực hành; hướng dẫn cách thức, quy trình chuẩn bị một bài thuyết trình và trình bày trước nhóm, tổ, lớp; cách thức và quy trình chuẩn bị một cuộc thảo luận, tranh luận và cách tham gia thảo luận, tranh luận. Đối với kĩ năng nói nghe tương tác, giáo viên hướng dẫn học sinh biết lắng nghe và biết đặt câu hỏi để hiểu nội dung nghe, biết nói theo lượt lời trong hội thoại, biết dùng các phương tiện nghe nhìn khác để hỗ trợ cho lời trình bày miệng. 5
  6. 7.1.2. Giải pháp 2: Rèn kĩ năng nói nghe gắn với hình thức học tập theo dự án để học sinh hứng thú tự tìm tòi và nghiên cứu. Dạy học dự án là một hình thức dạy học trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp và có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành để tạo ra sản phẩm có thể giới thiệu; gắn lý thuyết và thực hành, tư duy và hành động, phát huy tính tự lực và tính trách nhiệm, rèn luyện khả năng giải quyết những vấn đề phức hợp; rèn luyện tính bền bỉ và kiên nhẫn, rèn luyện năng lực cộng tác làm việc; rèn luyện năng lực đánh giá và nhất là kích thích động cơ và hứng thú cho người học. Học sinh không bị gò bó trong khuôn khổ một bài học văn thông thường mà được thể hiện khả năng sáng tạo của bản thân khi giải quyết các nhiệm vụ học tập có liên quan đến chủ đề của dự án, có cơ hội phát huy năng khiếu của bản thân như vẽ tranh, ngâm thơ, diễn xuất, từ đó khơi gợi hứng thú của người học trong việc tiếp nhận kiến thức, xây dựng ý thức trách nhiệm, ý thức tự học, tự tìm tòi, sáng tạo của học sinh. Dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên 6
  7. trong nhóm để cùng thực hiện một nội dung công việc cho một chủ đề. Và vậy mỗi cá nhân người học cần tham gia tích cực, tự lực. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. Các bước thực hiện dự án Bước 1.Giai đoạn chuẩn bị: Giáo viên xác định các điều kiện cần thiết để thực hiện dự án như: lựa chọn nội dung, phân bổ thời gian, cung cấp nguồn tài liệu để học sinh tiếp cận, các công cụ hỗ trợ cho việc thực hiện dự án. Giáo viên thiết kế bài học theo dự án: Xác định mục tiêu, thiết kế các yêu cầu dự án, lập kế hoạch đánh giá và thiết kế các hoạt động. Bước 2. Tổ chức cho học sinh học theo dự án: Học sinh sẽ lựa chọn chủ đề; xây dựng kế hoạch, phân công thành viên và nhiệm vụ, thực hiện dự án dưới sự giám sát của giáo viên; giới thiệu sản phẩm dự án và đánh giá dự án. Thông qua dự án học tập, học sinh được tham gia lựa chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú người học còn được tiếp tục hình thành trong quá trình thực hiện dự án. Học sinh có thể tự do sáng tạo, phát huy năng lực và phẩm chất cá nhân. 7
  8. Phân nhóm thực hiện dự án thuyết trình một vấn đề xã hội – lớp 10 Sinh CBG Chuẩn bị nói – nghe theo dự án đã giúp HS hứng thú tìm tòi, chuẩn bị nội dung thuyết trình, nâng cao trình độ sử dụng công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, học tập theo dự án còn giúp HS rèn kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm hiệu quả. 7.1.3. Giải pháp 3: Rèn kĩ năng nói nghe gắn với hoạt động tranh biện Tranh biện là hoạt động vận dụng tư duy, quan điểm về các kiến thức, lĩnh vực xung quanh vấn đề bàn luận, sắp xếp các quan điểm, ý kiến, dẫn chứng theo một hệ thống lập luận nhất định để ra đưa quan điểm phản biện. Sử dụng hoạt động tranh biện trong dạy học nói và nghe văn nghị luận xã hội sẽ giúp HS phát huy tối đa năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, HS có thể thể hiện quan điểm cá nhân của mình và phản biện quan điểm của người khác khi thảo luận về các vấn đề xã hội có ý nghĩa thực tiễn. Cách thức thực hiện: 8
  9. - Tổ chức tranh biện theo đội, nhóm: GV vận dụng lồng ghép phương pháp hoạt động nhóm kết hợp tranh biện. Thông thường, GV sẽ chia lớp thành 2 nhóm: nhóm ủng hộ và nhóm phản đối. HS khi được phân công vào nhóm nào sẽ tôn trọng và tuân thủ ý kiến của nhóm đó. Để giành chiến thắng trong phần tranh biện, HS phải tìm tòi, nghiên cứu kĩ những lí lẽ bảo vệ cho quan điểm của nhóm mình và tìm điểm chưa hợp lí của nhóm bạn để phản đối. Điều này kích thích tư duy và sự ham học hỏi, ưa chinh phục của HS. - Tổ chức tranh biện cá nhân giữa HS với HS: hoạt động này có thể tổ chức thường xuyên trong lớp học, được thực hiện khi các HS nhận xét, góp ý câu trả lời hay bài thuyết trình của các bạn trong lớp. - Tổ chức tranh biện giữa HS với GV: GV đưa ra những tình huống có vấn đề, những nhận định và kích thích HS tranh biện về nhận định đó của mình. Ví dụ: Khi dạy “Bài 3. Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận, phần Nói và nghe: Thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau” (Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống - Ngữ văn 10, tập 1), GV có thể lựa chọn hình thức tổ chức tranh biện theo đội, nhóm như sau: Bước 1 - Giới thiệu chủ đề tranh biện: “HS cấp THPT nên mặc đồng phục đến trường”. Bước 2 - Tạo nhóm, giao nhiệm vụ, HS chuẩn bị nghiên cứu về vấn đề tranh biện. GV phân công cụ thể: Nhóm khẳng định - Bên đồng ý với tuyên bố được đề xuất; Nhóm phủ định - Bên không đồng ý với tuyên bố được đề xuất. GV gợi ý HS hình thành ý kiến dưới dạng câu hỏi: Lợi ích của việc mặc đồng phục? Việc mặc đồng phục trong nhiều ngày có gây ra bất tiện cho HS? Bước 3 - Tiến hành tranh biện: Lượt 1. Các nhóm đưa ra quan điểm của nhóm mình - Đồng phục giúp tiết kiệm chi phí mua các loại quần áo cho HS. - Tránh được sự phân biệt giàu nghèo giữa các đối tượng HS. - Mặc đồng phục giới hạn khả năng thể hiện, phong cách, cá tính của HS. - Chi phí may đồng phục đắt, HS có thể không ưng chất liệu nhà may 9
  10. đưa ra. Giúp mọi người nhận ra mình là HS của trường nào. - Thể hiện tinh thần tập thể, đoàn kết. - Mặc đồng phục gây nhàm chán, giới hạn sự sáng tạo của HS. Lượt 2. Các nhóm phản bác ý kiến của nhau - Nếu HS tự do mặc trang phục mình lựa chọn sẽ có những trường hợp HS mặc trang phục không phù hợp với lứa tuổi HS, khi đó không gọi là cá tính mà là gây phản cảm trong môi trường học đường. - Việc chi trả tiền đồng phục một lần cho một năm học sẽ tiết kiệm hơn là việc HS phải chi nhiều tiền để chạy theo các xu hướng thời trang. - Sẽ có những HS mặc đồ đẹp, đắt tiền và HS nhà không có điều kiện mặc đồ rẻ hơn, gây ra luồng tranh luận, bàn tán về việc phân biệt giàu nghèo, gây mất đoàn kết. - HS mặc đồng phục giống nhau sẽ dẫn đến việc GV, HS gặp khó khăn khi ghi nhớ, phân biệt về một HS nào đó. - Có những chất liệu đồng phục không tốt khiến HS cảm thấy gò bó, không thoải mái khi học tập, vận động. - HS bắt buộc phải tuân thủ mặc đồng phục đến trường, nếu không mặc sẽ bị vi phạm nội quy nhà trường, dẫn đến tâm lí mệt mỏi, chán nản cho HS. HS không thể hiện được hứng thú, cá tính, sáng tạo của mình. 5 phút Bước 4: GV kết luận - Ý kiến của đội nào cũng có lí, đồng phục giúp chúng ta thêm gắn kết, xoá nhoà khoảng cách. Tuy nhiên, các trường có thể lựa chọn cho HS mặc đồng phục trong một số ngày nhất định, một số ngày được mặc tự do. Dù mặc trang phục nào thì HS cũng phải giữ đúng chuẩn mực, phù hợp với văn hoá, môi trường học tập. Sau khi tranh biện, GV yêu cầu HS trình bày suy nghĩ về vấn đề cần đặt ra với bản thân. Như vậy, thông qua hoạt động tranh biện, HS sẽ lần lượt được đổi vai người nói - người nghe, luyện tập được kĩ năng nói nghe tương tác, thảo luận cũng như bày tỏ được ý kiến, quan điểm của mình trong các tình huống khác nhau. 10
  11. Một số hình ảnh HS thảo luận, phản biện tại lớp 10 Hóa 11
  12. Một số hình ảnh HS thảo luận, phản biện tại lớp 10 Sinh Sử dụng hình thức tranh biện trong nói – nghe một vấn đề xã hội đã kích thích tinh thần làm việc hăng say cho HS, rèn khả năng tư duy, nhận thức vấn đề một cách đuầy đủ, đúng đắn và sâu sắc. Đồng thời tranh biện còn giúp HS rèn thêm bản lĩnh, quyết đoán, tin vào bản thân. 12
  13. 7.1.4. Giải pháp 4: Rèn kĩ năng nói nghe gắn với việc sử dụng công nghệ thông tin, một số phần mềm công nghệ trong dạy học nói và nghe văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 10 Công nghệ thông tin tạo điều kiện để người học khám phá tích cực và chủ động nguồn tri thức, tương tác với người dạy qua các thao tác để phát triển năng lực của bản thân một cách hiệu quả. Nhờ công nghệ thông tin với các tính năng của nó, người học sẽ có thể tự học và chọn lựa thông tin phù hợp để phát triển bản thân. Thông qua đó, người học cũng có điều kiện để khám phá chính mình, hoàn thiện bản thân với những tri thức, kĩ năng còn hạn chế bằng cách thay đổi chính mình. Công nghệ thông tin đặc biệt kích thích hứng thú học tập của hoc sinh, khuyến khích học sinh tư duy dựa trên nền tảng khám phá, thử nghiệm, có cơ hội phát triển năng lực thực tiễn, nhất là các kĩ năng phức tạp, các năng lực tổng hợp thông qua các điều kiện học tập đa dạng: học tập trực tiếp có ứng dụng công nghệ thông tin, học tập trên lớp học ảo, thí nghiệm ảo... Công nghệ thông tin cũng hỗ trợ học sinh phát triển, nâng cao năng lực thích ứng, nhất là với các điều kiện đặc biệt về thời gian, hoàn cảnh. Cụ thể, thúc đẩy năng lực ứng dụng của người học, nhất là năng lực ứng dụng và thực hành trong bối cảnh xã hội phát triển với các yêu cầu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 với sự đổi thay của công nghệ, máy móc và tự động hóa. Công nghệ thông tin đã hỗ trợ người học có thể học mọi lúc, mọi nơi, cụ thể như học qua e-Learning hay học theo phương thức lớp học đảo ngược. Ngoài ra, công nghệ thông tin giúp người học có thể chủ động về thời gian nhất là đảm bảo việc học tập liên tục ngay cả những điều kiện khó khăn, bất thường. Góp phần phát triển hứng thú học tập và kĩ năng của người học, tạo không gian học tập mở. Ứng dụng thiết bị công nghệ thông tin và học liệu số góp phần “trực quan hoá” các dữ liệu học tập cùng với các tiện ích của chúng đã tạo thêm sự hứng thú học tập, kích thích ý tưởng và hoạt động khám phá, sáng tạo của người học. Ngoài ra, còn giúp người học có động lực và trách nhiệm hơn trong việc tự học để hoàn thiện chính mình, góp phần phát triển khả năng người học nói chung và khả năng công nghệ trong việc khai thác học liệu số và thiết bị công nghệ. Nhờ học liệu số, khi học sinh khai thác phù hợp nghĩa là không chỉ phát triển về tri thức mà còn phát 13
  14. triển các kĩ năng sống có liên quan: kĩ năng lựa chọn và khai thác thông tin. Bên cạnh đó, khi làm quen, tiếp cận và sử dụng các thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục, học sinh sẽ có cơ hội để thực hành, rèn luyện một cách trực tiếp hay mô phỏng, đồng thời đây cũng là cách để chuẩn bị cho học sinh về tư duy làm việc khoa học, công nghệ để thay đổi cả suy nghĩ, định hướng thích ứng với các yêu cầu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0. Thiết bị công nghệ và học liệu số giúp người học có thể chủ động tiếp cận không giới hạn nguồn tài nguyên ở lĩnh vực mà họ đang học tập và nghiên cứu, từ đó khai thác và thúc đẩy việc phát triển năng lực ở các lĩnh vực người học quan tâm, hứng thú cũng như có tiềm lực, tố chất. Thực tế cho thấy, thiết bị công nghệ dần trở nên quen thuộc với học sinh, không chỉ tiếp xúc ở trường học mà học sinh còn làm quen, tìm hiểu ở nhiều nơi khác nhau. Điều này sẽ giúp học sinh có thể tìm hiểu, khám phá chính mình khi khai thác các nội dung có liên quan về tự đánh giá, tự nhận thức thông qua các tính năng, giá trị của học liệu số và thiết bị công nghệ. Đây là cơ hội để nhận diện bản thân: hứng thú, tính cách, nhu cầu, ước mơ... và định hướngkế hoạch phát triển chính mình. Hoặc kho học liệu số và các thành phần khác có liên quan đến hệ sinh thái giáo dục với cầu nối là các thiết bị công nghệ sẽ tạo điều kiện để học sinh tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu... Cụ thể, với các ứng dụng thiết bị công nghệ, quá trình tương tác của người học với sản phẩm của trí tuệ nhân tạo sẽ tạo ra các cơ hội tương tác trong không gian vật chất ảo, đa chiều, tăng khả năng tiếp cận, xử lí thông tin; nới rộng không gian, môi trường học tập; phát triển năng lực tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề. Thiết bị công nghệ và học liệu số còn góp phần làm đa dạng các hình thức tương tác trong hoạt động của học sinh: tương tác giữa học sinh - học sinh, học sinh - giáo viên, học sinh - cộng đồng. Các tương tác này tạo cơ hội phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác bên cạnh các phẩm chất và năng lực đã được xác định trong chương trình giáo dục phổ thông 2018. Không chỉ vậy, ứng dụng công nghệ thông tin giáo viên còn có thể mở rộng khả năng giám sát, đánh giá quá trình tự học của học sinh để có căn cứ điều chỉnh, định hướng. Kết quả khi thực hiện giải pháp Học sinh đã có thể ứng dụng nhiều phần mềm để khai thác thông tin và dữ liệu học tập , ứng dụng phần mềm của học sinh rất đa dạng và hiệu quả. 14
  15. - Sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ thiết kế học liệu: Sử dụng công nghệ trong dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng là xu hướng, cũng là yêu cầu đặt ra hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh thực hiện Chương trình 2018 cũng như triển khai dạy học theo những bộ sách giáo khoa mới. Để thực hiện theo mục tiêu của Chương trình, cụ thể đối với việc dạy học kĩ năng nói và nghe, GV có thể sử dụng công nghệ ở khá nhiều mức độ và cách thức, phương pháp khác nhau. Sau đây, chúng tôi đề xuất một số hướng sử dụng cơ bản, dễ thực hiện đối với GV và phù hợp với trình độ, nhận thức của HS lớp 10. GV có thể sử dụng một số phần mềm có tính năng thiết kế, tạo bài thuyết trình, thiết kế phiếu học tập như Canva, PowerPoint, Thinglink... trong dạy học nói và nghe văn nghị luận xã hội cho HS lớp 10 để thiết kế một số học liệu như: Phiếu tìm ý, Phiếu theo dõi bài nói, Phiếu đánh giá bài nói, Phiếu kiểm tra và chỉnh sửa bài nói, nghe. Ví dụ: Trong “Bài 3. Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận, phần Nói và nghe: Thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau” (Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống - Ngữ văn tập 1), GV có thể thiết kế phiếu theo dõi bài thảo luận để HS có thể dễ dàng nắm bắt được phần nói của HS khác và phản hồi khi cần thiết. Hoặc trong “Bài 9. Hành trang cuộc sống, phần Nói và nghe: Thuyết trình về một vấn đề xã hội có sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ” (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, tập 2), GV có thể thiết kế hoặc giao cho HS thiết kế phiếu tìm ý chuẩn bị cho bài nói. Hoặc. Ngoài ra, đối với HS lớp 10 đã có kĩ năng sử dụng công nghệ tốt, có thể thành thạo nên GV có thể hướng dẫn HS sử dụng các phần mềm này trong quá trình chuẩn bị bài thuyết trình về vấn đề xã hội có sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ như tranh ảnh, video, sơ đồ... - Sử dụng công nghệ thông tin trong quản lí lớp học, tăng cường tương tác: Mục tiêu dạy học nói và nghe văn nghị luận xã hội cho HS lớp 10 là HS thảo luận được về một vấn đề có những ý kiến khác nhau; đưa ra được những căn cứ thuyết phục để bảo vệ hay bác bỏ một ý kiến nào đó; tôn trọng người đối thoại. Do vậy, trong quá trình dạy học nói và nghe văn nghị luận xã hội cho HS lớp 10, GV nên tổ chức cho HS tương tác, thảo luận theo các hình thức khác nhau để HS phát huy tối đa năng lực của mình, đạt được mục tiêu như đã đề cập ở trên. Việc GV sử dụng 15
  16. công nghệ thông tin để tạo nên các diễn đàn thảo luận sẽ giúp HS tăng cường các hoạt động thảo luận, tương tác trước, trong và sau giờ học, hỗ trợ tối đa số lượng HS tham gia thảo luận cũng như tăng thêm sự hứng thú, hào hứng của HS với những hình thức thảo luận đa dạng, sinh động. GV có thể sử dụng một số phần mềm có chức năng tạo cuộc họp trực tuyến như Zoom, Google Meet, Microsoft Teams hoặc các phần mềm có tính năng thảo luận, tạo diễn đàn, lưu giữ, tạo lớp học trực tuyến như Google Classroom, Padlet, FlipGrid... Khi dạy học văn nghị luận xã hội, GV có thể sử dụng các phần mềm trong việc tổ chức các hoạt động như sau: + HS nộp sản phẩm, bài tập, câu trả lời: HS có thể tải hình ảnh, bài ghi âm, video đã hoàn thiện lên lớp học trực tuyến, các phần mềm tạo video giúp GV không chỉ thu thập được sản phẩm của HS mà còn có thể tổ chức việc thảo luận, đánh giá lẫn nhau giữa các HS. GV có thể sử dụng các phần mềm tạo cuộc họp trực tuyến để tạo các diễn đàn cho HS trao đổi, chia sẻ, tranh biện theo các hình thức linh hoạt (cá nhân, ghép cặp, nhóm). Ví dụ: Khi dạy học “Bài 9. Hành trang cuộc sống, phần Nói và nghe thuyết trình về một vấn đề xã hội có sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ” (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, Tập 2), ngoài việc cho HS nói và nghe trực tiếp trên lớp, GV có thể giao nhiệm vụ cho HS thuyết trình về chủ đề Bạo lực học đường, nộp sản phẩm qua Padlet, hoặc ứng dụng FlipGrid là một nền tảng thảo luận bằng video. Điểm khác biệt so với các công cụ giao bài tập hay đặt câu hỏi thông thường là HS có thể trả lời hay phản hồi bằng các đoạn video ngắn từ thiết bị của mình. Với hình thức phản hồi bằng video như vậy, HS có thể nhanh chóng thể hiện ý kiến, suy nghĩ, bày tỏ cảm xúc về vấn đề thảo luận, qua đó rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng thuyết trình, đồng thời tăng tính tương tác giữa GV với HS, HS với HS. HS có thể quay trực tiếp video thông qua phần mềm hoặc tải video có sẵn từ điện thoại, máy tính. HS theo dõi các sản phẩm của các bạn trong lớp và nhận xét dưới phần bình luận của các video. Như vậy, GV có thể dễ dàng thu thập, theo dõi, đánh giá khả năng nói và nghe, nói nghe tương tác của tất cả HS mà không mất nhiều thời gian. Hơn nữa các video lưu lại được nên GV và HS có thể theo dõi sự tiến bộ của HS từ 16
  17. video trước đến video sau. Những video được lưu lại cũng là tư liệu học tập quý giá có thể làm mẫu cho các khoá học sau. Như vậy, cùng với đọc và viết, nói và nghe là những kĩ năng giao tiếp quan trọng cần hình thành và rèn luyện cho HS trong nhà trường phổ thông, nhằm phát triển cho HS những năng lực đặc thù trong môn Ngữ văn cũng như những năng lực chung và phẩm chất cần đạt theo yêu cầu của Chương trình môn Ngữ văn 2018. Dưới đây là một số sản phẩm của HS sử dụng các phần mềm công nghệ thông tin để chuẩn bị nội dung thuyết trình, nói – nghe: (Sử dụng phần mềm Padlet- dành cho dự án của 10 Sinh) 17
  18. QGzQ/edit?utm_content=DAFdX7UUKqQ&utm_campaign=designshare&utm_m edium=link2&utm_source=sharebutton s9hkHSD6_pnIdg/view?utm_content=DAFdXT49F7c&utm_campaign=designshar e&utm_medium=link2&utm_source=sharebutton 9IGQ/edit?utm_content=DAFawb5kdEM&utm_campaign=designshare&utm_med ium=link2&utm_source=sharebutton w/edit?utm_content=DAFdX7dnft4&utm_campaign=designshare&utm_medium=l ink2&utm_source=sharebutton (sử dụng phần mềm Canva để soạn thảo trình chiếu Powpoint) 18
  19. Hình ảnh một số Slide hỗ trợ thuyết trình Có thể khẳng định, sử dụng một số phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học nói và nghe văn nghị luận xã hội cho HS lớp 10 là phù hợp với thực tiễn cũng như yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Những đề xuất này có nhiều ưu điểm trong việc tạo ra các sản phẩm dạy học hiệu quả, hấp dẫn, thu hút HS; hỗ trợ tích cực cho sự tương tác giữa HS và GV; góp phần nâng cao hiệu quả trong việc rèn kĩ năng nói - nghe nói riêng và dạy học môn Ngữ văn nói chung trong bối cảnh hiện nay. 7.1.5. Giải pháp 5: Sử dụng kết hợp nhiều hình thức luyện nói – nghe Với chương trình Ngữ văn 2018, số tiết dành cho kỹ năng nói và nghe rất ít, chỉ 10% tổng số thời lượng (khoảng trên 10 tiết/năm). Do vậy, để rèn kĩ năng nói – nghe cho HS, GV cần sử dụng kết hợp nhiều hình thức khác nhau: sinh hoạt lớp, phát biểu ý kiến xây dựng bài, trao đổi thảo luận... 20