Một số cách dẫn nhập nhằm nâng cao hiệu quả trong giờ dạy ngữ pháp tiếng Nhật
Bạn đang xem tài liệu "Một số cách dẫn nhập nhằm nâng cao hiệu quả trong giờ dạy ngữ pháp tiếng Nhật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
mot_so_cach_dan_nhap_nham_nang_cao_hieu_qua_trong_gio_day_ng.pdf
Nội dung tài liệu: Một số cách dẫn nhập nhằm nâng cao hiệu quả trong giờ dạy ngữ pháp tiếng Nhật
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Một số cách dẫn nhập nhằm nâng cao hiệu quả trong giờ dạy ngữ pháp tiếng Nhật” 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: tháng 09/2023 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): không 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: Đa phần các giáo viên khi dạy ngữ pháp sẽ viết cấu trúc lên bảng, sau đó giải thích các kí hiệu trong cấu trúc, các cách sử dụng cấu trúc ngữ pháp, ý nghĩa cấu trúc, sau đó cho học sinh luyện tập luôn. Do sự hạn chế về mặt thời gian, cùng với số lượng học sinh lớn nên các giáo viên thường bỏ qua việc dẫn nhập mà trực tiếp đưa ra mẫu ngữ pháp cho học sinh luôn. Cách dạy này cũng những ưu điểm là: - Rút ngắn thời gian giảng dạy cho giáo viên; - Đơn giản, dễ hiểu cho cả học sinh và giáo viên; - Học sinh không cần suy nghĩ quá nhiều. Thế nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế đó là: - Học sinh dễ quên bài; - Học sinh hoàn toàn thụ động tiếp nhận kiến thức mà không hề vận dụng suy nghĩ về ý nghĩa, cách sử dụng mẫu ngữ pháp; - Học sinh không hiểu được rõ các bối cảnh, tình huống cụ thể sử dụng mẫu ngữ pháp đấy từ đó sẽ không thể làm được các bài tập liên quan đến mẫu ngữ pháp đấy; - Giờ học bị nhàm chán vì học sinh chỉ việc chép lại những gì trên bảng mà giáo viên ghi; - Không có sự tương tác giữa giáo viên và học sinh. Chính vì vậy, muốn nâng cao chất lượng giờ dạy ngữ pháp nói riêng, giờ dạy tiếng 1
- Nhật nói chung; đồng thời cũng là nâng cao chất lượng của môn tiếng Nhật thì cần phải làm tốt khâu truyền đạt, dẫn dắt, gợi mở kiến thức cho học sinh. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến Trong xã hội hiện đại ngày nay, toàn cầu hóa đang là xu thế lớn có tác động trực tiếp sâu rộng tới đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong đó, thương mại quốc tế trở thành hoạt động mang tính chất sống còn vì sự cất cánh và phát triển của mỗi quốc gia. Cùng với việc thay đổi chiến lược phát triển, các quốc gia đều ra sức tăng cường hợp tác kinh tế khu vực và liên minh kinh tế toàn cầu. Từ đó xuất hiện sự giao thoa văn hóa, và đặc biệt là sự giao lưu và hội nhập kinh tế giữa các nước. Với Việt Nam, đây chính là một cơ hội lớn để thu hút sự đầu tư từ các cường quốc lớn trên thế giới. Và một trong số đó không thể không kể tới Nhật Bản. Nhật Bản hiện là đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam, là nhà tài trợ ODA lớn nhất, đối tác hợp tác lao động đứng thứ 2, đầu tư và đối tác du lịch lớn thứ 3, đối tác thương mại thứ 4 của Việt Nam. Tại tỉnh Bắc Giang, Nhật Bản là quốc gia đứng thứ tư về số dự án đầu tư và thứ sáu về tổng vốn đăng ký trong 27 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào tỉnh. Có 21 doanh nghiệp của Nhật Bản đang hoạt động ổn định tại tỉnh. Đặc sản vải thiều Lục Ngạn đã được Nhật Bản cấp chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý và có bán tại hệ thống siêu thị. Sự giao thoa văn hóa, và đặc biệt là sự giao lưu và hội nhập kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản đã mang lại cho Việt Nam những “lợi ích” trên nhiều phương diện khác nhau. Song, trong sự trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại phát triển như vũ bão hiện nay, khi mà con người ta phải chạy đua với công nghệ, với sự hiện đại và văn minh nhân loại thì làm thế nào để con người Việt Nam có thể đón đầu và vươn lên tới tầm cao trí tuệ của nhân loại? Theo khảo sát năm 2011 của Hiệp hội kinh tế Nhật Bản, “Các phẩm chất, kiến thức, năng lực cần có của nhân lực toàn cầu” là như sau: Năng lực đương đầu với thử thách; năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ; Năng lực quan tâm đến sự khác biệt trong văn hóa, tư duy mang tính quốc tế và có khả năng thích ứng một cách linh hoạt. Có thể nói, ngoại ngữ có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo và phát triển của đất nước. Việc biết ngoại ngữ không chỉ là yêu cầu đối với đội ngũ lao động kỹ thuật cao nhằm đáp ứng quy trình công nghệ thường xuyên được đổi mới mà đó còn là yêu cầu cần thiết đối với một người Việt Nam hiện đại. Vì 2
- thế, việc học tập và nghiên cứu ngoại ngữ trở thành một nhu cầu cấp thiết trong đời sống con người. Từ đầu năm học 2016-2017, 4 trường tiểu học ở Hà Nội và 1 trường tiểu học của (TPHCM) bắt đầu khai giảng lớp học tiếng Nhật dành cho học sinh lớp 3. Theo đó, Việt Nam là nước thí điểm đưa tiếng Nhật vào giảng dạy ở bậc tiểu học đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Trước đó, tiếng Nhật đã được đưa vào giảng dạy tại các trường trung học cơ sở của Việt Nam từ năm 2003 ở một số trường trung học ở Hà Nội. Đây là một hoạt động thuộc đề án “Dạy tiếng Nhật trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2016 – 2026”. Mục tiêu của đề án là đến năm 2026, sẽ có khoảng 300 trường tiểu học và 10.000 học sinh tiểu học được học tiếng Nhật. Đến năm 2005, việc dạy tiếng Nhật như ngoại ngữ chính được triển khai ở các trước phổ thông ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TPHCM. Tại thời điểm năm 2015, có 32 trường phổ thông, trong đó có 20 trường cấp 2, 12 trường cấp 3 đang thực hiện chương trình này. Với số lượng người học tiếng Nhật trong năm 2015 là 64.863 người, Việt Nam đứng thứ 8 trong 10 nước có số lượng người học đông nhất trên thế giới, đứng thứ 2 ở Đông Nam Á (sau Indonesia và Thái Lan). Số người học tăng 18.101 người so với kết quả năm 2012. Trong khi đó, số lượng giáo viên tiếng Nhật trên toàn quốc là 1795 người, tăng 167 người so với năm. Ngoài ra, từ tháng 9 năm 2021, Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh Bắc Giang cũng bắt đầu tổ chức giảng dạy tiếng Nhật tại Trường THPT Chuyên Bắc Giang. Tính tới hiện nay đã mở được 3 lớp: 10, 11, 12 với tổng số 106 em học sinh. Cùng với số lượng người học tiếng Nhật ngày một tăng thì yêu cầu về giáo viên, chương trình giảng dạy, nguồn học liệu...lại càng cao. Mặc dù tiếng Nhật được đưa vào giảng dạy tại Việt Nam từ lâu rồi nhưng so với các lĩnh vực khoa học khác thì phần nghiên cứu, giáo trình giảng dạy vẫn còn “nghèo nàn”. Hơn nữa, bộ môn tiếng Nhật cũng được coi là một môn ngoại ngữ khó trên thế giới. Đặc biệt đối với người Việt đang quen sử dụng hệ thống bảng chữ cái Latinh thì việc học tiếng Nhật lại càng thêm khó khăn. Đa số các bạn học sinh khi học tiếng Nhật nói riêng và ngoại ngữ nói chung đều khó có thể cân bằng giữa các kỹ năng. Vậy làm cách nào để có thể cải thiện các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết khi học ngoại ngữ?. Ngữ pháp tiếng Nhật đóng vai trò quan trọng trong quá trình học ngoại ngữ và được xem là nền tảng để phát triển các kỹ năng khác. Nắm chắc được ngữ pháp kết hợp hệ thống từ vựng tốt, dù là giao tiếp 3
- hay viết luận văn cũng không thể làm khó chúng ta. Về vai trò của ngữ pháp ở kỹ năng nghe: có ngữ pháp chính là nền tảng để bạn hiểu người khác đang nói gì. Nhiều người cho rằng chỉ cần nghe và hiểu các từ vựng, xâu chuỗi lại là có thể hiểu được cả đoạn. Tuy nhiên đối với các đoạn hoặc câu phức tạp, dùng nhiều đại từ quan hệ hoặc có nhiều cấu trúc, bắt buộc phải hiểu ngữ pháp mới có thể hiểu được. Trong kỹ năng nói: phải dựa vào ngữ pháp để tạo nên câu văn và diễn đạt nó một cách hoàn chỉnh, biểu đạt được chính xác ý mình muốn nói. Trong kỹ năng đọc: tương tư như đối với kỹ năng nghe, khi đọc một đoạn văn hoặc bài viết nào đó, ta phải sử dụng đến các kiến thức ngữ pháp để hiểu được chính xác ý của tác giả. Và cuối cùng ở kỹ năng viết: đây là kỹ năng bắt buộc phải vận dụng ngữ pháp rất nhiều bởi nó yêu cầu độ chính xác cao. Từ những lý do trên ta có thể thấy được tầm quan trọng của ngữ pháp nói chung, ngữ pháp tiếng Nhật nói riêng. Tóm lại, xuất phát từ yêu cầu cần có của một người giáo viên, từ tình hình thực tế giảng dạy tiếng Nhật tại trường THPT Chuyên Bắc Giang; với mong muốn phát triển kỹ năng làm bài tập ngữ pháp cùng với điều kiện nghiên cứu của bản thân, tôi quyết định chọn biện pháp: “Một số cách dẫn nhập nhằm nâng cao hiệu quả trong giờ dạy ngữ pháp tiếng Nhật” nhằm trang bị cho giáo viên và học sinh những cơ sở lý luận quan trọng cùng những nguồn học liệu phong phú, đáng tin cậy góp phần nâng cao hiệu quả giờ học ngữ pháp cho học sinh. Từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn tiếng Nhật, đặc biết đối với các học sinh lớp chuyên Nhật – trường THPT Chuyên Bắc Giang. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến: Biện pháp này được thực hiện nhằm giúp giáo viên có những tiết học ngữ pháp dễ hiểu, gần gũi với học sinh hơn, tạo không khí lớp học thoải mái. Từ đó học sinh hiểu rõ về bối cảnh, cách sử dụng mẫu pháp đó. Đồng thời, nâng cao hiệu quả trong giờ dạy ngữ pháp tiếng Nhật. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 7.1.1. Giải pháp 1: Tên biện pháp: Dẫn nhập vào mẫu ngữ pháp bằng các thẻ tranh, hình ảnh 4
- Đối với các học sinh khi mới bắt đầu học tiếng Nhật thì lượng từ vựng mà các em có thể nói rất ít nên nếu giáo viên dẫn nhập bằng các câu văn tiếng Nhật dài sẽ khiến các em không hiểu gì. Chính vì vậy, các tranh ảnh hay hình ảnh minh họa là một đạo cụ không thể thiếu. Bằng việc vừa cho học sinh xem hình ảnh vừa chỉ thị sẽ khiến học sinh hứng thú, hiểu được tình huống cụ thể sử dụng mẫu ngữ pháp. Các thẻ tranh, hình ảnh sẽ lưu sâu vào bộ não của học sinh nhanh hơn là các con chữ. Hơn nữa, việc dẫn nhập bằng các thẻ tranh hay hình hình ảnh là phương pháp có thể làm ở bất cứ đâu, bất kể người hay địa điểm. Những điểm cần lưu ý khi lựa chọn các thẻ tranh, hình ảnh sao cho phù hợp: - Dễ dàng lý giải được nội dung: Khi lựa chọn các thẻ tranh, hình ảnh thì điều quan trọng đó là phải hiểu rõ nội dung của nó. Về ai, cái gì.... Ngoài ra thì kích thước của thẻ cũng phải phù hợp; Phông chữ dễ nhìn; Lượng thông tin trên thẻ không được quá nhiều - Tính dễ sử dụng của thẻ: Các thẻ tranh, hình ảnh cũng có thể được sử dụng hiệu quả không chỉ bằng cách hiển thị từng cái một mà còn bằng cách hiển thị chúng cạnh nhau. Khi sắp xếp các tấm thẻ, hãy cân nhắc xem chúng sẽ được sắp xếp ở đâu và như thế nào, chúng sẽ được dán trên tường hay đặt trên bàn. Nếu muốn treo lên tường thì có thể dán nam châm ở mặt sau, hoặc nếu đặt trên bàn thì có thể điều chỉnh kích thước sao cho không cản trở đến việc giảng dạy. - Dễ tạo ra: Nếu thẻ tranh, ảnh dễ bị rách hoặc gãy thì sẽ phải đi làm lại nhiều lần nên các thẻ khi lựa chọn để in cần phải bền, dày dặn để có thể sử dụng lâu dài. Một số ví dụ của việc dẫn nhập bằng thẻ tranh, hình ảnh trong giờ dạy ngữ pháp ❖ Dẫn nhập khi dạy mẫu ngữ pháp「V ることができます・V ることができま せん」(có thể làm V・ không thể làm V) 5
- Trước tiên, giáo viên cho học sinh xem hình ảnh này và hỏi học sinh một số câu hỏi liên quan đến hình ảnh để học sinh trả lời như:「この人は何をしていますか」 (người này đang làm gì thế); 「この人は水泳が上手ですか。下手ですか。」 (người này có bơi giỏi hay không)...Tiếp đến giáo viên sẽ vừa chỉ vào hình ảnh vừa nói 「およぐことができます」và ghi mẫu câu lên bảng. Sau đó yêu cầu học sinh thảo luận về ý nghĩa của câu. Từ đó học sinh tự xây dựng mẫu ngư pháp, rút ra ý nghĩa, cách sử dụng mẫu câu. Cuối cùng giáo viên cho học sinh luyện tập mẫu câu ngữ pháp theo trình tự từ dế đến khó. ❖ Dẫn nhập khi dạy mẫu ngữ pháp「~とおもいます」(tôi nghĩ...) 6
- Trước tiên, giáo viên cho học sinh xem hình ảnh này và hỏi học sinh một số câu hỏi liên quan đến hình ảnh để học sinh trả lời như:「これは何ですか」(cái này là gì thế). Sau đó chắc chắn học sinh sẽ có nhiều câu trả lời thú vị khác nhau như 「いぬで す」(con chó);「パンダです」(con gấu trúc). Sau đó giáo viên sẽ vừa chỉ vào hình ảnh vừa làm dáng vẻ suy nghĩ và nói 「これはいぬだとおもいます。」Như vậy là bằng việc sử dụng hình ảnh khi dẫn nhập đã thu hút được sự chú ý của học sinh. Tiếp đến giáo viên sẽ vừa chỉ vào hình ảnh vừa nói 「これはいぬだとおもいます。」và ghi mẫu câu lên bảng. Sau đó yêu cầu học sinh thảo luận về ý nghĩa của câu. Từ đó học sinh tự xây dựng mẫu ngư pháp, rút ra ý nghĩa, cách sử dụng mẫu câu. Cuối cùng giáo viên cho học sinh luyện tập mẫu câu ngữ pháp theo trình tự từ dễ đến khó. 7.1.2. Giải pháp 2: Tên biện pháp: Sử dụng ngôn ngữ hình thể để dẫn nhập vào mẫu ngữ pháp Ngôn ngữ vốn được coi là phương tiện để truyền đạt giữa con người nhau. Nhưng việc sử dụng các hành động, cử chỉ cơ thể cũng chính là cách để truyền đạt. Đối với các học sinh mới bắt đầu học một ngôn ngữ mới như tiếng Nhật thì việc giáo viên sử dụng các hành động, cử chỉ khi dạy một cấu trúc ngữ pháp mới là điều hết sức cần thiết. Cần nhớ rằng trình tự phát triển của một đứa trẻ đó là khóc; tiếp đến là sử dụng hành động, cử chỉ để diễn đạt; và cuối cùng mới là diễn đạt bằng ngôn ngữ. Những điểm cần lưu ý khi lựa chọn biện pháp sử dụng ngôn ngữ hình thể để dẫn nhập vào mẫu ngữ pháp: - Những cử chỉ, hành động di chuyển quá nhanh hoặc quá chậm; những cử chỉ quá “nhỏ bé”-“khó nhìn” đều có tác dụng ngược lại. Bởi những cử chỉ này sẽ khiến cho khán giả cảm thấy bị ngợp nếu nhanh quá, và bồn chồn nếu chậm quá. Bí quyết đó là hãy giảm tốc độ tổng thể và thể hiện bản thân một cách thoải mái và nghiêm trang. 7
- - Quyết định địa điểm sẽ sử dụng: Quyết định trước cử chỉ nào sẽ sử dụng trong cuộc trò chuyện, bài phát biểu và thuyết trình. Ngoài ra, theo thời gian, sự chú ý của người nghe có xu hướng giảm dần, do đó, sẽ hiệu quả hơn nếu thu hút khán giả bằng cách thỉnh thoảng đi vòng quanh sân khấu trong khi phát biểu và thuyết trình để thu hút lại họ. - Cử chỉ chỉ hỗ trợ biểu hiện giọng nói: Nếu sử dụng quá nhiều, tác động sẽ giảm đi và trông sẽ lộn xộn. Đừng chỉ dựa vào cử chỉ; hãy sử dụng các kỹ thuật diễn đạt như ngữ điệu và ngắt nghỉ. Một số ví dụ của việc dẫn nhập việc sử dụng ngôn ngữ hình thể trong giờ dạy ngữ pháp ❖ Dẫn nhập khi dạy mẫu ngữ pháp「~ながら」(vừa làm V1, vừa làm V2...) Giáo viên sẽ dẫn nhập vào mẫu câu với 3 ví dụ. 導入①:私はコーヒーを飲みながら、新聞を読みます。(Tôi vừa uống cafe vừa đọc báo) Giáo viên sẽ vừa dùng hành động để diễn tả vừa nói tiếng Nhật. Giáo viên cầm tách cafe và cho học sinh đoán xem cô giáo đang làm gì. Tiếp đến giáo viên cầm báo đọc để làm hành động đọc báo và cho học sinh đoán xem cô giáo đang làm gì. Cuối cùng giáo viên diễn tả hành động vừa đọc báo vừa uống cafe và nói 「私 はコーヒーを飲みながら、新聞を読みます。」(Tôi vừa uống cafe vừa đọc báo). Giáo viên lặp lại 3 lần câu nói này và ghi lên bảng. 導入②:音楽を聞きながら、本を読みます。(vừa nghe nhạc vừa đọc sách) Tương tự giáo viên vẫn dùng hành động để diễn tả. Giáo viên diễn tả hành động nghe nhạc bằng việc sử dụng tai nghe hoặc headphone và hỏi học sinh xem cô giáo đang làm gì. Tiếp đến giáo viên lại diễn tả hành động đọc sách và cho học sinh đoán. Cuối cùng giáo viên diễn tả hành động vừa nghe nhạc vừa đọc sách và 8
- nói 「音楽を聞きながら、本を読みます」(vừa đọc sách vừa nghe nhạc ). Giáo viên lặp lại 3 lần câu nói này và ghi lên bảng. 導入③:日本語を勉強しながら、音楽を聞きます。(vừa học tiếng Nhật vừa nghe nhạc) Giáo viên vẫn dùng hành động để diễn tả. Giáo viên diễn tả hành động học tiếng Nhật bằng việc sử dụng sách tiếng Nhật và hỏi học sinh xem cô giáo đang làm gì. Tiếp đến giáo viên lại diễn tả hành động nghe nhạc và cho học sinh đoán. Cuối cùng giáo viên diễn tả hành động vừa học tiếng Nhật vừa nghe nhạc và nói 「日 本語を勉強しながら、音楽を聞きます」Giáo viên lặp lại 3 lần câu nói này và ghi lên bảng. Cuối cùng, yêu cầu học sinh thảo luận về ý nghĩa của 2 câu đã ghi lên bảng là 「私はコーヒーを飲みながら、新聞を読みます。」「音楽を聞きなが ら、本を読みます」「日本語を勉強しながら、音楽を聞きます」. Từ đó cho học sinh tự xây dựng mẫu ngư pháp, rút ra ý nghĩa, cách sử dụng mẫu câu. Cuối cùng giáo viên cho học sinh luyện tập mẫu câu ngữ pháp theo trình tự từ dễ đến khó. ❖ Dẫn nhập khi dạy mẫu ngữ pháp「これ/それ/あれ」(cái này/ cái kia/ cái đó) Giáo viên vừa chỉ vào điện thoại của mình vừa nói「これは携帯電話 です」 (cái này là cái điện thoại) ;Giáo viên vừa chỉ vào điện thoại của học sinh vừa nói 「それは携帯電話です」(cái kia là cái điện thoại);Giáo viên vừa chỉ vào đồng hồ của lớp vừa nói「あれはとけいです」 (cái đó là cái đồng hồ) . Giáo viên viết cả 3 ví dụ lên bảng, cho học sinh thảo luận về ý nghĩa. Từ đó cho học sinh tự xây dựng mẫu ngư pháp, rút ra ý nghĩa, cách sử 9
- dụng mẫu câu. Cuối cùng giáo viên cho học sinh luyện tập mẫu câu ngữ pháp theo trình tự từ dễ đến khó. 7.1.3. Giải pháp 3: Tên biện pháp: Dẫn nhập vào mẫu ngữ pháp thông qua việc tương tác với người học Việc tương tác với học sinh sẽ khiến bầu không khí lớp học sẽ trở nên sôi động hơn, nơi người học không chỉ lắng nghe mà còn tham gia vào bài học và khi không nói được điều mình muốn nói, người học có thể nói: “Ồ. Cứ nói thế này đi!!'' . Tóm lại, để việc dẫn nhập không chỉ đơn phương từ phía giáo viên nói thì điều quan trọng là sự tương tác với người học. Nói cách khác chính là việc đặt câu hỏi cho người học. Một số ví dụ dẫn nhập vào mẫu ngữ pháp thông qua việc tương tác với người học ❖ Dẫn nhập khi dạy mẫu ngữ pháp「~ことができます」(có thể làm V) Giáo viên sẽ viết một chữ Hán mà học sinh đã học 「日本」lên bảng và tương tác – hội thoại với học sinh như sau: T:この漢字は何ですか。Chữ Hán này đọc là gì? S:「にほん」です。Nhật Bản T:みなさんは、この漢字を読むことができます。Các em có thể đọc được chữ Hán này. Giáo viên sẽ viết một chữ Hán mà học sinh chưa từng học lên bảng và tương tác – hội thoại với học sinh như sau: (「薔薇」と漢字を板書する) T:この漢字は何ですか。(Chữ Hán này đọc là gì?) S:わかりません。(Em không biết) T:みなさんは、この漢字を読むことができません。(Các em không thể đọc được chữ Hán này). 10
- ❖ Dẫn nhập khi dạy mẫu ngữ pháp「~ようになりました」(đã trở nên có thể làm V) T:S さん、日本に来る前はできませんでした。日本に来てから、で き ます。何かありますか。(Trước khi đến Nhật em đã không thể. Sau khi đến Nhật thì đã có thể. Đó là cái gì?) S:日本語が話せます。(Em có thể nói tiếng Nhật) T:おお~、そうですね。今日本語を話していますね。日本に来る前 は、日本語が全然話せませんでしたか? (ồ, vậy à. Bây giờ em đang nói tiếng Nhật nhỉ. Thế trước khi đến Nhật em hoàn toàn không thể nói được tiếng Nhật à?) S:はい、話せませんでした。(Vâng em hoàn toàn không nói được) T:今はどうして日本語が話せますか? (Vậy bây giờ tại sao lại có thể nói được?) S:勉強していますから。(vì em đang học) T:S さんは日本に来る前、日本語が話せませんでした。日本に来 て、 日本語を勉強しています。今、日本語が話せます。S さん は・・・ (Bạn S trước khi đến Nhật thì không thể nói được tiếng Nhật. Sau khi đến Nhật, học tiếng Nhật, bây giờ đã có thể nói tiếng Nhật) T:S さんは日本語が話せるようになりました。 (Bạn S đã trở nên có thể nói được tiếng Nhật rồi) 11
- 7.1.4. Giải pháp 4: Tên biện pháp: Dẫn nhập vào mẫu ngữ pháp bằng việc cho người học đóng vai chính Phương pháp này học sinh bị đóng vai chính một cách tự nhiên trong các tình huống mà giáo viên đặt ra. Học sinh hòa mình vào câu chuyện, giao tiếp và phản ứng với tình huống một cách tự nhiên khiến cho các em hứng thú với giờ, tạo bầu không khí lớp học từ đó nâng cao hiệu quả giờ học. Khi biến người học thành một nhân vật chính của câu chuyện thì cũng có những trường hợp các câu trả lời của học sinh sẽ khác với giáo viên dự đoán. Trong trường hợp này, giáo viên không được luống cuống, mà cần bình tĩnh ứng xử một cách khéo léo và linh hoạt với câu trả lời của học sinh. Một số ví dụ dẫn nhập vào mẫu ngữ pháp: ❖ 「~てもいいですか」(tôi làm cái này được không?) (先生は学生の隣に行く)Giáo viên đi đến bên cạnh học sinh T:疲れましたから、ここに座りたいです。Sさん、ここに座っても いい ですか。 (Vì tôi mệt nên tôi muốn ngồi ở đây. S ơi, cô ngồi ở đây được chứ?) S:はい、いいですよ。(vâng, được ạ) ❖ 「いっしょに~V ませんか」(mình cùng làm V nhé) サッカーチケットを準備しておく (giáo viên chuẩn bị sẵn vé xem bóng đá) T:○○日、私はサッカーを見ます。これはチケットです。 12
- (Vào ngày...cô sẽ đi xem đá bóng. Đây là vé xem) (誘う相手を探して)S1 さん、いっしょに見ませんか。 (Tìm kiếm học sinh định mời và nói em có cùng đi với cô không?) 7.1.5. Giải pháp 5: Tên biện pháp: Dẫn nhập vào mẫu ngữ pháp bằng lời nói Đây là phương pháp giáo viên sẽ dẫn nhập vào mẫu ngữ pháp bằng việc sử dụng những từ vựng, ngữ pháp đã học, tạo những câu đơn giản và dễ hiểu cho học sinh. Giáo viên có thể một câu chuyện gần gũi với các chủ đề về gia đình, sở thích, bạn bè, cuộc sống, học tập, làm thêm để khiến các em hứng thú. Các từ vựng được sử dụng cũng đơn giản, tránh những câu phức tạp học sinh không hiểu. Một số ví dụ dẫn nhập vào mẫu ngữ pháp: (Nếu có 100 vạn yên, cô sẽ mua ô tô) ❖ Giáo viên dẫn nhập bằng lời nói khi dạy mẫu ngữ pháp 「もし~たら」 (Nếu...thì...) 私は車がほしいです。 (Cô muốn có ô tô) でも、お金がありませんから、車を買うことができません。 (Thế nhưng, vì không có tiền nên cô đã không thể mua được ô tô) お金が 100 万円あります。車を買います。 (Cô có 100 vạn yên. Cô sẽ mua ô tô) もしお金が 100 万円あったら、車を買います。 (Nếu có 100 vạn yên, cô sẽ mua ô tô) ❖ Giáo viên dẫn nhập bằng lời nói khi dạy mẫu ngữ pháp 「N がすきです。」 (thích...) 私はきのう 映画を見ました。今日も 映画を見ます。明日も 映画を見ます。あさっても 映画を見ます。私は 映画が好きです。 13
- (Ngày hôm qua tôi đã xem phim. Ngày hôm nay cũng xem phim. Ngày mai cũng xem phim. Ngày kia cũng xem phim. Tôi thích phim 7.1.6. Giải pháp 6: Tên biện pháp: Vẽ biểu đồ và giải thích Với các cấu trúc liên quan đến thời gian, thì như hiện tại, quá khư, tương lai...thì việc vẽ biểu đồ sẽ khiến học sinh hình dung được rõ nhất về cách sử dụng, về trình tự xảy ra của hành động. ❖ Dẫn nhập khi dạy mẫu ngữ pháp「~ています」(diễn tả trạng thái...) Một số dạng bài tập ngữ pháp đề xuất xây dựng theo đề thi đánh giá năng lực tiếng Nhật もんだい 1: ( ) に なにを いれますか。 1・2・3・4 から いちばんいいものを ひと つえらびなさい。 1. 私の家から学校まで、歩いて 5 分( )かかりません。 A. だけ B. なら C. しか D. あいだ 14
- 2. 友だち( )あって、一緒に食事をしました。 A. と B. で C. へ D. を 3. 駅についたら電話をください。駅( )むかえに行きますから。 A. から B. より C. まで D. など 4. つかれましたね。コーヒー( )飲みに行きませんか。 A. でも B. や C. ほど D. と 5. 日本でびっくりしたこと( )スピーチをしました。 A. と B. によって C. に D. について 6. 山中「今度の旅行、どこに行きましょうか。」 川村「これいな所( )どこでもいいです。」 A. と B. が C. たら D. なら 7. ( )漢字が覚えられますか。教えてください。 A. どうする B. どうして C. どうすれば D. どうやって 15
- 8. 日本語は( )難しくなりました。 A. どきどき B. もうすぐ C. だんだん D. あまり 9. ( )しゅくだいがおわりました。3 時間もかかりました。 A. きっと B. なかなか C. やっと D. もっと 10. 中山「毎日ラーメン( )食べているの?野菜も食べたほうがいいよ。」 木村「うーん。でも、ラーメンはかんたんだから。」 A. ばかり B. までに C. くらい D. ほど 11. 妹は私が勉強( )間、ずっとねていました。 A. するの B. している C. した D. する 12. 山中「雨がふりそうですね。」 森「そうですね。( )うちに帰りましょう。」 A. ふらない B. ふる C. ふった D. ふらなかった 13. 田中「ジーンさんは今日は来ないでしょうね。」 川村「え、どうしてですか。」 田中「きのうぐあいが( )から。」 A. わるいかもしれません 16
- B. わるいはずでした C. わるいです D. わるそうでした 14. 学生「子のレポートはあしたまでに ( )か。」 先生「いえ、今週中に書けば いいですよ。」 A. 書かなければいけません B. 書いています C. 書いてもいいです D. 書いてはいけません 15. 高山「店長、来月の 10 日にテストがあるんです。それで 9 日と 10 日、( ) か。」 店長「テストか。いいよ。がんばってね。」 A. 休んでまらえます B. 休んでくれません C. 休ませてもらえません D. 休ませてもいいです もんだい 2: ____★____に 入る ものは どれですか。 1・2・3・4 から いちばんいい ものを ひとつえらびなさい。 16. 私が ______ ______ ★ ______ 大きなマンションがたっています。 A. あった B. 家が C. 所に D. うまれた 17. 道をまちがえて自分 ______ ______ ★ ______ わからなくなってしまいまし た。 A. か B. が C. どこに D. いる 18. 駅前に新しく ______ ______ ★ ______ ケーキとあじがにています。 A. 店のケーキは 17
- B. むかし母がよく C. できた D. つくってくれた 19. 中山「あれ、田村さん、なんだかつかれている用ですね。」 田村「ええ、きょうはとても ______ ______ ★ ______んです。」 A. なかった B. しょくじをする C. 時間も D. いそがしくて 20. 天気がわるい日が ______ ______ ★ ______のもこまります。 A. ふらない B. あめが C. いやですけど D. つづくのは もんだい 3: 21 から 25 、に 何を 入れますか 。文章の意味を 考えて、1・2・3・4 から いちばん いい ものを 一つ えらんで ください。 21. 下の文 章は、留学生の 作文です。 小さい子ども リン・メイ 日本に来る 前に 、私は 日本は子どもの数が少ないと聞ていました。㉑ 私が住んで いる 所は小さい子供がとても 多いです。ベビーカーをおして いるお母さん、自動車に子供を ㉒ お母さんたちがたくさん います。外を歩いてい るときに、小さい子どもを見ないことはあリません。 わかい 人が たくさん住んで いる所 ㉓ 。私の家の近に 保育園があります。朝は お母さんかお父さんが子どもを つれてきます。昼間はよく子供たちが先生たちと外を ㉔ みます。夕方はお母さんや お父さんが子どもを迎えに来ます。子供たちはとても ㉕ 。 21. A. でも B. だから C. すると D. それで 22. 18
- A. 乗せている B. 乗ってもらう C. 乗せてくれる D. 乗ってみる 23. A. でなくてもいいでしょう B. でなければいけません C. だからでしょう D. のはずはありません 24. A. さんぽしているのを B. ないているのを C. あそんでいるのを D. うたっているのを 25. A. うれしいからです B. うれしかったです C. うれしいそうです D. うれしそうです Kết quả khi thực hiện giải pháp: có hiệu quả Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp: Qua nghiên cứu thái độ, sự tập trung của học sinh lớp 10 nhật, 12 Nhật qua nhiều tiết học, tôi nhận thấy học sinh đã có sự hứng thú hơn khi học ngữ pháp. Các em tập trung vào bài dạy hơn, tích cực học tập hơn. Nắm kĩ cách sử dụng, ý nghĩa của mẫu ngữ pháp được học. Khả năng ghi nhớ kiến thức cũng nhanh hơn, ít quên bài hơn. Bảng số liệu, biểu đồ so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp: 19
- Thái độ, hứng thú và sự tích cực với nội Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng giải dung bài học giải pháp pháp Rất hứng thú 12% 20% Có hứng thú 35% 60% Không hứng thú 38% 20% Rất không hứng thú 15% 0% 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến: tôi áp dụng sáng kiến để giúp học sinh lớp 10 nhật, 12 nhật có thể nâng cao khả năng học ngữ pháp, mong các em sẽ làm tốt bài thi ngữ pháp nói riêng và bài thi tiếng Nhật nói chung trong các kỳ thi, đặc biệt trong kỳ thi THPTQG cũng như nâng cao chất lượng bộ môn Tiếng Nhật. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến: với những nội dung được soạn thảo chi tiết trong chuyên đề sẽ giúp giáo viên cũng như học sinh tiết kiệm được thời gian, không phải tìm tài liệu một cách quá vất vả. * Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. Xác nhận của tổ/ nhóm chuyên môn Tác giả sáng kiến (Chữ ký và họ tên) (Chữ ký và họ tên) Trần Phương Ly 20

