Nâng cao kỹ năng nghe cho học sinh giỏi Quốc Gia trường THPT Chuyên Bắc Giang thông qua bài tập nghe thực tế
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Nâng cao kỹ năng nghe cho học sinh giỏi Quốc Gia trường THPT Chuyên Bắc Giang thông qua bài tập nghe thực tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
nang_cao_ky_nang_nghe_cho_hoc_sinh_gioi_quoc_gia_truong_thpt.pdf
Nội dung tài liệu: Nâng cao kỹ năng nghe cho học sinh giỏi Quốc Gia trường THPT Chuyên Bắc Giang thông qua bài tập nghe thực tế
- THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Nâng cao kỹ năng nghe cho học sinh giỏi Quốc Gia trường THPT Chuyên Bắc Giang thông qua bài tập nghe thực tế. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: ngày 30/9/2023 3. Các thông tin cần bảo mật: không 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: Kĩ năng nghe hiểu là một trong bốn kỹ năng quan trọng đối với những người học ngoại ngữ. Muốn giao tiếp được thành công thì người học phải vận dụng được rất nhiều kiến thức nền và kỹ năng khác để nghe và hiểu được những gì người khác diễn dạt một cách chính xác. Nghe Tiếng Anh tốt sẽ khuyến khích học sinh say mê, tự tin trong học tập hơn và củng cố được các kỹ năng khác như nói, ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp... Trong thực tế rèn các kỹ năng tiếng Anh cho học sinh đội tuyển, giáo viên phải đối mặt với không ít khó khăn, đặc biệt là rèn kỹ năng nghe. Qua thực tế ở trường chúng tôi, khi bắt đầu học môn ngoại ngữ phần lớn học sinh thích học, nhưng dần dần học sinh lại chán học. Hầu hết các em rất yếu về kỹ năng nghe. Thật khó để các em nghe hiểu nội dung một bài văn hay đoạn hội thoại. Sau mỗi tiết dạy nghe giáo viên rất khó khăn trong việc kiểm tra lại thông tin mà các em đã nghe và việc kiểm tra bài cũ thường không dễ. Phần lớn học sinh chưa biết cách học nghe, học sinh thường thấy luyện nghe là khó nhất. Trong quá trình học, một số học sinh cho rằng dù trong bài nghe có nhiều từ đã biết nhưng nghe không ra, có học sinh lại cho rằng nguyên nhân nghe không hiểu là do thiếu vốn từ (vốn từ vựng nghèo). Học sinh luôn cảm thấy lo lắng khi học tiết nghe hiểu, các em cho rằng khó khăn chính là ở chỗ tốc độ lời nói của người nói Tiếng Anh nhanh quá, không bắt kịp và khi nói Tiếng Anh, họ nuốt nhiều âm và từ. Vậy làm thế nào để giúp học sinh, đặc biệt là học sinh không chuyên có thể vận dụng được vốn từ vựng và cấu trúc ngữ pháp của mình để nghe hiểu hiệu quả? Dạy nghe như thế nào để sau mỗi giờ học học sinh cảm thấy thích thú và yêu quý môn học hơn? Làm thế nào để tìm kiếm một số phương pháp tích cực, đơn giản, dễ hiểu, thiết thực mà vẫn đảm bảo tính khoa
- học, nhằm phát triển khả năng tư duy, sự suy đoán và tính sáng tạo của học sinh. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến: Khi bắt đầu học tiếng Anh, học sinh được tiếp xúc với bốn kỹ năng cơ bản của ngôn ngữ là nghe, nói, đọc, và viết. Đây là những kỹ năng quan trọng của người học ngôn ngữ nước ngoài. Trong bốn kĩ năng đó, nghe là một trong những kỹ năng rất khó đối với người học, đòi hỏi người học cũng như người dạy phải nắm được các kiến thức nhất định và thực hiện tốt nguyên tắc “Học đi đôi với hành”. Dạy nghe là một trong những nội dung cơ bản và thực sự là sự kết hợp tinh tế của việc giảng các kỹ năng ngôn ngữ khác. Kĩ năng nghe hiểu là một trong bốn kỹ năng quan trọng đối với những người học ngoại ngữ. Muốn giao tiếp được thành công thì người học phải vận dụng được rất nhiều kiến thức nền và kỹ năng khác để nghe và hiểu được những gì người khác diễn dạt một cách chính xác. Nghe Tiếng Anh tốt sẽ khuyến khích học sinh say mê, tự tin trong học tập hơn và củng cố được các kỹ năng khác như nói, ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Từ những luận điểm trên và kết hợp với quá trình dạy học chúng tôi nhận thấy: Kĩ năng nghe hiểu là một trong bốn kỹ năng quan trọng và khó đối với những người học ngoại ngữ. Muốn giao tiếp được thành công thì người học phải vận dụng được rất nhiều kiến thức nền và kỹ năng khác để nghe và hiểu được những gì người khác diễn dạt một cách chính xác. Kĩ năng nghe tốt giúp cho học sinh giao tiếp được dễ dàng hơn và đặc biệt giúp các em thực hành sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả. Nghe là là một phần không thể thiếu đối với học sinh chuyên Anh nói chung và học sinh đội tuyển học sinh giỏi quốc gia nói riêng vì trong các đề thi IELTS, hồ sơ đăng ký du học và đặc biệt là đề thi học sinh giỏi Quốc gia, nghe là phần bắt buộc và được đánh giá cao. Tuy nhiên, trong quá trình học các em học sinh chuyên Anh chưa có cơ hội làm quen với các tài liệu nghe thực tế, đây là phần rất khó và quan trọng các các bài thi học sinh giỏi các khu vực và học sinh giỏi quốc gia. Các em còn lúng túng vì chưa quen với các dạng nghe hiểu, tốc độ nghe, ngữ âm và giọng điệu. Vì vậy chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài "Nâng cao kỹ năng nghe cho học sinh giỏi Quốc Gia trường THPT Chuyên Bắc Giang thông qua bài tập nghe thực tế." để giúp các em có nguồn tài liệu tham khảo để nâng cao kỹ năng nghe. Từ đó nâng cao
- hiệu quả giảng dạy bộ môn, đặc biệt chất lượng học sinh giỏi quốc gia môn Tiếng Anh. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu và phân tích tình hình thực tế của việc áp dụng các nhiệm vụ giao tiếp trong giảng dạy kỹ năng nghe cho học sinh chuyên Anh và đội tuyển giỏi quốc gia tại trường THPT Chuyên Bắc Giang. Sau khi tìm hiểu thái độ học tập của học sinh và tình hình thực tế trong trường đối với kỹ năng nghe, đề tài nhằm cung cấp ngữ liệu giảng dạy cho giáo viên và học sinh để cải thiện kỹ năng nghe bằng cách sử dụng các tài liệu nghe thực tế. 7. Nội dung sáng kiến: 7.1. Thuyết minh về giải pháp của sáng kiến Giải pháp chúng tôi đưa ra là giải pháp mới, bởi hiện nay việc tìm kiếm tài liệu tham khảo nghe thực tế cho học sinh rất khó. Hầu như là không có sách viết sẵn, giáo viên cần phải tự tìm nguồn và biên tập các dạng bài phù hợp với định dạng đề thi, kiến thức thi và trình độ học sinh của mình. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao buộc giáo viên chúng tôi phải tự xây dựng tài liệu, biên tập hệ thống câu hỏi luyện thi hữu ích giúp học sinh cũng như giáo viên đỡ tốn thời gian, công sức cho việc soạn giảng và học tập. Chính vì vậy sáng kiến chúng tôi đã đưa ra các nội dung sau: * Giải pháp 1: a. Tên giải pháp: Tìm hiểu về cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài trong việc dạy kỹ năng nghe cho học sinh giỏi quốc gia b. Nội dung: Với hệ thống lý thuyết chung cả về lí luận và thực tiễn của việc dạy và học kỹ năng nghe nói chung cho học sinh. Nội dung này bao gồm các cơ sở lý luận về kỹ năng nghe và tình hình thực tế của việc dạy và học kỹ năng nghe cho học sinh đội tuyển quốc gia. Với hệ thống lý thuyết này giáo viên có thể đưa ra phương pháp giảng dạy phù hợp cho từng đối tượng học sinh, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận hơn và giải quyết vấn đề tốt hơn. - Kết quả giải pháp 1: Hệ thống toàn bộ các nội dung về tầm quan trọng
- của việc dạy và học kỹ năng nghe, những yếu tố khó khăn trong việc dạy học kỹ năng nghe, thực trạng cũng như các giải pháp cho những khó khăn khi dạy kỹ năng nghe tiếng Anh trong trường THPT. (Chi tiết tại phụ lục số 1) * Giải pháp 2: a. Tên giải pháp: Các dạng bài tập nghe thực tế b. Nội dung: Trong nội dung này nhóm tác giả đã đưa ra bốn dạng bài tập của kỹ năng có trong đề thi học sinh giỏi quốc gia, đây chính là điểm mới và sáng tạo của chúng tôi bởi đây là tài liệu mà chúng tôi đã tìm nguồn nghe thực tế từ các bản tin trên các trang mạng, rồi soạn thảo thành các dạng bài phù hợp với chương trình thi và năng lực học sinh. Dạng 1: Bài tập Đúng/Sai (True or false) Dạng bài tập này rèn cho học sinh khả năng nghe hiểu và phán đoán chính xác thông tin. Bên cạnh đó, học sinh cần có kiến thức từ vựng cũng như xã hội phải rộng, cùng với khả năng suy đoán thông tin nhanh. Để làm được dạng bài tập này học sinh cần thực hiện thao tác trước khi nghe như đọc lướt, tập trung từ chìa khóa và phán đoán thông tin. Trong đề thi HSGQG môn tiếng Anh, dạng bài tập này thường được chọn từ các sách biên soạn hoặc thiết kế lại từ các nguồn sách sẵn có. Để học sinh được tiếp xúc với đa dạng bài tập được thiết kế từ nguồn tài liệu nghe thực tế là bản tin từ VOA, BBC, và các trang mạng tin cậy khác, chúng tôi cung cấp một số bài nghe dạng này để giúp học sinh nâng cao được kỹ năng nghe. Như vậy: Nhóm tác giả đã biên soạn các dạng bài tập này với các câu hỏi đa dạng chủ đề và tốc độ nghe, với các câu hỏi giống như định dạng của các kỳ thi HSG các cấp, đặc biệt là kì thi HSG Quốc gia.Tổng số 10 bài với 50 câu hỏi và và đáp án hướng dẫngiải cụ thể chi tiết. (Chi tiết tại phụ lục số 2) Dạng 2. Trả lời câu hỏi Cũng như dạng 1, dạng bài tập này rèn cho học sinh khả năng nghe hiểu thông tin chi tiết. Học sinh đọc kỹ câu hỏi và nghe tập trung để có thể đưa ra các câu trả lời ngắn gọn và chính xác. Trong những năm gần đây, dạng bài tập trả lời câu hỏi xuất hiện trong phần nghe đề thi HSGQG môn tiếng Anh. Dạng này cũng được thiết kế lại từ các nguồn khác nhau và đây là một trong những phần khó của phần nghe. Dưới đây chúng tôi cung cấp một số bài tập luyện nghe được thiết kế từ nguồn nghe thực tế với các chủ đề đa dạng như thể
- thao, công nghệ, khoa học, môi trường,v.v.Với dạng 2 chúng tôi biên tập được 50 câu. (Chi tiết tại phụ lục số 2) Dạng 3: Bài tập trắc nghiệm Dạng bài tập này thường được lấy từ các nguồn sách có sẵn trên thị trường nhưng ở mức đó khó. Dạng này rèn cho học sinh khả năng tư duy và suy đoán nâng cao dựa trên kiến thức ngôn ngữ cũng như kiến thức xã hội. Với dạng 3 chúng tôi biên tập được 50 câu. (Chi tiết tại phụ lục số 2) Dạng 4- Bài tập điền từ (Gap- filling) Dạng bài tập này đòi hỏi học sinh phải có vốn từ vựng rộng, có hiểu biết về văn hóa, lịch sử và tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hiện nay. Các chủ đề nghe đa dạng và tốc độ nghe thường nhanh, nên học sinh cần luyện tập nhiều. (Chi tiết tại phụ lục số 2) - Kết quả giải pháp 2: Giải pháp số 2 cung cấp cho các thầy cô và các em học sinh phần nguồn tài liệu phong phú. Học sinh được luyện tập thường xuyên với việc nghe tin tức thực tế, rồi thông qua đó luyện các bài tập thì kỹ năng nghe không những sẽ cải thiện mỗi ngày mà còn tạo được hứng thú học bài cho học sinh vì mỗi bài nghe mang lại cho học sinh kiến thức xã hội rất hữu ích. * Giải pháp : a. Tên giải pháp: Đề luyện tập tổng hợp b. Nội dung: Nhằm giúp học sinh có thể đánh giá khả năng tiến bộ của mình, chúng tôi biên soạn 2 đề nghe hoàn chỉnh. Chúng tôi mong rằng bộ đề kiểm tra này có thể là nguồn tham khảo hữu ích cho giáo viên và học sinh. - Kết quả giải pháp 3: Giáo viên giảm được áp lực tìm nguồn tài liệu và học sinh có cơ hội thấy được mặt mạnh trong kỹ năng nghe cũng như điểm cần cải thiện khi làm bài nghe. Kết quả khi thực hiện giải pháp Giải pháp đã cung cấp cho giáo viên và học sinh nguồn tài liệu nghe phong phú về chủ đề cũng như dạng bài. Giải pháp này được coi là nguồn tài liệu mang tính thiết thực và có tính hiệu quả cao trong việc dạy và học kỹ năng nghe cho học sinh. Trong quá trình triển khai các hoạt động, những hoạt động này đã được áp dụng một cách khoa học, góp phần cải thiện đáng kể khả năng
- nghe thực tế cho học sinh. 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến Đề tài tập trung nghiên cứu các dạng bài nghe thực tế. Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp chuyên Anh và đội tuyển HSGQG môn tiếng Anh tại trường THPT Chuyên Bắc Giang. Nhiệm vụ dạy đội tuyển học sinh giỏi quốc gia có thể được sử dụng rộng rãi trong tất cả bốn kỹ năng nhưng nghiên cứu này của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc phát xây dựng các dạng bài tập nghe cho học sinh giỏi quốc gia. 7.3. Hiệu quả mang lại 7.3.1. Hiệu quả về kinh tế - Những giải pháp được trình bày trong sáng kiến là nguồn tư liệu tham khảo hiệu quả cho giáo viên. Qua đó tiết kiệm thời gian, công sức của giáo viên khi áp dụng các hoạt dộng ngôn ngữ để nâng cao hiệu quả trong việc dạy kỹ năng giao tiếp cho học sinh. - Giáo viên có thể sử dụng các giải pháp được trình bày trong sáng kiến để ôn luyện, kiểm tra đánh giá kỹ năng giao tiếp của học sinh. - Giáo viên có thể sử dụng các giải pháp khác nhau, phù hợp với trình độ của từng học sinh, từng cấp học để đạt hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao kỹ năng giao tiếp cho học sinh. 7.3.2. Hiệu quả xã hội và môi trường Sau khi áp dụng các hoạt động của câu lạc bộ tiếng Anh gần một năm học, chúng tôi nhận thấy rằng các giải pháp được chúng tôi áp dụng thực hiện cho ba lớp khối 10 và khối 11 và khối 12 tại các trường từ tháng 9/2022- đến tháng 3/2023. Sau một thời gian dài áp dụng, sáng kiến này sẽ giúp cho quá trình đổi mới toàn diện hơn, nhất là trong nâng cao kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Cụ thể như sau: + Khơi gợi cảm hứng, thúc đẩy động lực học tập cho học sinh. + Tạo không khí học tập trong lớp, học sinh không còn cảm thấy căng thẳng mà thay vào đó là tâm trạng rất háo hức mong đợi, tích cực tham gia vào
- bài học, mạnh dạn trình bày ý kiến, nêu thắc mắc, từ đó các em tự chiếm lĩnh kiến thức và ghi nhớ một cách bền vững hơn do đó mà kết quả học tập cũng được nâng cao. - Với giáo viên giảng dạy: Sáng kiến sẽ tác động trực tiếp đến nhận thức, ý thức và năng lực của giáo viên, góp phần quan trọng vào việc đổi mới giáo dục hiện nay. Thực hiện sáng kiến này chính là một điều kiện, một cơ hội để giáo viên không ngừng tìm hiểu, cập nhật thông tin tri thức mới, củng cố kiến thức chuyên môn từ đó nâng cao năng lực, phẩm chất cá nhân. Với những yêu cầu cao trong việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, người giáo viên phải tự ý thức không ngừng học hỏi, nghiên cứu, trau dồi nâng cao bản lĩnh và trình độ chuyên môn, đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra của xã hội. * Cam kết: Chúng tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến Nguyễn Danh Hào Đặng Thị Hương
- Phụ lục số 1 Giải pháp 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN I.1. Giới thiệu chung Nghe là một trong những kĩ năng cần thiết trong quá trình thực hiện giao tiếp. Giống như kĩ năng đọc, nghe cũng là một kĩ năng tiếp thụ, nhưng nghe thường khó hơn đọc, vì ngôn bản tiếp thụ qua nghe là lời nói. Khi ta nói các ý thường không được sắp xếp có trật tự như viết; ý hay lặp đi lặp lại, có nhiều từ thừa, từ đệm, không đúng ngữ pháp. Hơn nữa khi nghe người khác nói, ta chỉ nghe có một lần, đòi hỏi người nghe phải tập trung cao độ để nghe đúng ý và bắt kịp tốc độ người nói để có thể hiểu được nội dung cần truyền tải của người nói; còn khi đọc, để hiểu nội dung bài đọc ta có thể đọc đi đọc lại nhiều lần văn bản đó. Do đó, khi dạy kĩ năng nghe, ngoài những thủ thuật chung áp dụng cho các kĩ năng tiếp thụ, GV còn cần có những thủ thuật đặc thù cho các hoạt động luyện nghe của học sinh. Trong đề thi HSGQG, kỹ năng nghe chiếm 1/4 tổng số điểm. Để làm tốt bài nghe trong đề, người học cần làm quen các giọng Anh , Mỹ, Úc và các nước nói tiếng Anh vì đề bài đa dạng hóa nội dung bài nghe. Hơn nữa, trong bài nghe nên có một đoạn tin tức thời sự cập nhật mới nhất (Bầu cử Tổng Thống, Thủ Tướng, Khủng bố...), một đoạn quảng cáo của một công ty hay một tổ chức Chính phủ nào đó, bản tin dự báo thời tiết...Như thế yêu cầu người học phải được luyện nghe các bài tập thực tế để cập nhật và nâng lên phù hợp với mức độ đề Học Sinh Giỏi Quốc Gia. I.2. Kỹ năng nghe hiểu Định nghĩa về nghe hiểu được các nhà khoa học đưa ra theo các cách khác nhau. Theo Field (1998:38) thì ‘Nghe là một quá trình trí tuệ không nhìn thấy được, do đó rất khó mô tả. Người nghe phải phân biệt được các âm, hiểu được từ vựng và cấu trúc ngữ pháp, nắm được trọng âm và ý định của người nói, có thể nhớ lại và hiểu được nó trong ngữ cảnh văn hóa-xã hội của phát ngôn.’ Anderson & Lynch (1988: 21) đưa ra định nghĩa về nghe hiểu như sau: ‘Nghe hiểu nghĩa là hiểu những gì mà người nói đã nói. Người nghe có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình nghe bằng cách vận dụng kiến thức đa dạng của mình phân tích những gì anh ta nghe được để có thể hiểu phát ngôn của người nói.’
- Wolvin & Coakley (1985) định nghĩa nghe theo cách đơn giản hơn: ‘Nghe là quá trình cơ quan thính giác tiếp nhận, xử lý và xác định được thông điệp của lời nói.’ Định nghĩa về nghe hiểu, theo Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm (1997) trong ‘Từ điển tiếng Việt’ được đưa ra cụ thể như sau: ‘Nghe là một quá trình trong đó thính giác tiếp nhận những âm thanh bên ngoài và chuyển nó đến hệ thống thần kinh trung ương. Tại đây, những âm thanh này được phân tích, chuyển thành những tín hiệu và được truyền đến các giác quan giúp hình thành những phản xạ của con người đối với những âm thanh đó.’ Các định nghĩa trên cho thấy nghe hiểu là một kỹ năng giải quyết vấn đề (problem-solving) phức tạp. Nhiệm vụ của nghe hiểu không chỉ là tiếp nhận âm thanh mà nó còn đòi hỏi sự phân tích và xác định được thông điệp của lời nói. Nghe là kỹ năng tiếp thu, là quá trình giải mã âm thanh, cho nên ở đây có sự quan hệ mật thiết và âm vị học và ngữ nghĩa học. Có thể nói rằng Nghe là một kỹ năng đòi hỏi sự phán đoán nắm bắt nhanh nhạy và khả năng tổng hợp rất cao về nhiều mặt của người nghe. Do đó, muốn nghe tốt, ngoài kiến thức ngôn ngữ, người học cần phải có kiến thức nền về văn hoá của đích ngữ, có vốn sống và hiểu biết rộng rãi về các lĩnh vực khoa học tự nhiên cũng như xã hội và kiến thức ngôn ngữ chuyên ngành. Nói cách khác nghe là quá trình hiểu và lĩnh hội tri thức một chiều, nghĩa là người nghe phải dùng năng lực ngôn ngữ để giải mã một chuỗi các phát ngôn trong một tình huống xa lạ qua cảm thụ âm thanh. Vì vậy làm thế nào để dạy tốt môn nghe cho học sinh bậc PTTH có kết quả vẫn còn là một vấn đề khá nan giải. I.3. Tầm quan trọng của kỹ năng nghe hiểu Thực tế giảng dạy và học tập Ngoại ngữ cho thấy rằng kỹ năng nghe hiểu là kĩ năng khó nhất đối với người học vì cùng một lúc người nghe phải tiếp nhận ngôn ngữ gồm: từ vựng, cấu trúc và hiểu được ý người nói. Thêm vào đó kỹ năng nghe là một trong những kỹ năng được chú trọng phát triển trong các phương pháp dạy ngoại ngữ mới kể từ khi phương pháp nghe nhìn được áp dụng. Kỹ năng nghe có tầm quan trọng đặc biệt. Vì tầm quan trọng của kỹ năng này, tùy theo phương pháp, mục đích, mức độ, thời gian mà việc sử dụng kỹ thuật nghe được thực hiện khác nhau. Do đó, dạy kỹ năng nghe là công việc khó khăn nhất đối với giáo viên tiếng Anh, vì kỹ năng “Nghe” đòi hỏi việc tích lũy vốn kiến thức tiếng Anh và thời gian rèn luyện, vì không có các qui tắc, công
- thức như học ngữ pháp, hoặc kỹ năng nói và viết cũng có các bài tập riêng để nâng cao kỹ năng. Học sinh luôn cho mình sẽ chẳng hiểu gì về thông tin sắp được nghe, hoặc họ thường có thói quen nhận ra từ quen nào đó và dịch, kết quả họ không thể nắm bắt nội dung toàn bộ thông tin đang truyền đạt. Mục đích của việc dạy ngoại ngữ không phải là cung cấp cho học sinh kiến thức của ngôn ngữ đó, mà mục đích cuối cùng của việc dạy ngoại ngữ nói chung, tiếng Anh nói riêng, là dạy học sinh khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh. Khả năng giao tiếp của học sinh thể hiện qua các kỹ năng: Nghe, Nói, Đọc, Viết. Kỹ năng nghe tiếng Anh của học sinh được hình thành qua một quá trình học tập rèn luyện trong môi trường Anh ngữ. Ngoài việc học tập ở trường lớp, học sinh phải tự học tập rèn luyện nghe thông qua các hình thức và các phương thức khác nhau. I.4. Các hình thức nghe hiểu I.4.1. Nghe thực tế Trong cuéc sèng hµng ngµy cã hai c¸ch nghe chÝnh: - Nghe Ýt môc ®Ých: lµ c¸c ho¹t ®éng nghe mang tÝnh chÊt gi¶i trÝ, nh• khi ta nghe ®µi, xem truyÒn h×nh mµ vÉn cã thÓ tiÕn hµnh ®ång thêi mét c«ng viÖc kh¸c. - Nghe cã tËp trung môc ®Ých : lµ ho¹t ®éng nghe cã chñ ý, muèn n¾m b¾t mét néi dung th«ng tin nµo ®Êy vÝ dô nh• nghe tin trªn ®µi, trªn truyÒn h×nh, nghe c¸c chØ dÉn, h•íng dÉn gi¶i thÝch, nghe gi¶ng bµi v.v...Trong tr•êng hîp nµy ng•êi nghe chñ yÕu tËp trung vµo nh÷ng ®iÓm quan träng, cÇn thiÕt cho mục đích nghe của mình. Người nghe biết rõ mình muốn nghe gì. Điều nµy gióp ng•êi nghe h•íng sù chó ý vµo ®óng néi dung cÇn thiÕt, do vËy th•êng n¾m b¾t ®•îc vÊn ®Ò mét c¸ch cã hiÖu qu¶ h¬n. I.4.2. Nghe trong môi trường học ngoại ngữ -Trong m«i tr•êng häc ngoại ngữ c¸c ho¹t ®éng nghe chñ yÕu lµ nghe cã tËp trung, vµ nghe nh»m ph¸t triÓn kü n¨ng kh¸c nhau. Có những loại hoạt động nghe hiểu chính trong việc học ngoại ngữ sau: + Nghe ý chÝnh. + Nghe ®Ó t×m th«ng tin cÇn thiÕt. + Nghe ®Ó chuÈn ®o¸n nh÷ng th«ng tin tr•íc ®ã.
- + Nghe ®Ó thùc hiÖn nh÷ng nhiÖm vô giao tiÕp ®•îc ®Æt ra. + Nghe chi tiÕt (c¶ néi dung lÉn cÊu tróc ng÷ ph¸p) - Trong m«i trêng häc ngoại ngữ, ngêi häc cã thÓ nghe qua giao tiÕp víi b¹n bÌ, thµy c«. * Lưu ý: Học sinh có thể xác lập lại lượng thông tin dựa trên các cơ sở sau: - Kiến thức về ngôn ngữ (từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, văn phong...) - Sự quen thuộc với chủ đề đang được đề cập tới. - Sự quan sát, diễn giải, ngữ cảnh giao tiếp, kể cả những gì xảy ra trước đó. - Kiến thức, tri thức mà các em cùng nắm được với người nói. - Sự hiểu biết, thừa nhận về thái độ, sở thích cá nhân người nói. - Sự hiểu biết về ngữ cảnh, văn hóa trong giao tiếp. - Sự hiểu biết về những tín hiệu ngoài ngôn ngữ như: tốc độ nói, ngừng đoạn, cử chỉ, điệu bộ, vẻ mặt. Trong môi trường học tiếng, các hoạt động nghe chủ yếu là nghe có tập trung, và nghe nhằm phát triển các kỹ năng khác. I. 5. Những khó khăn thường gặp trong quá trình học kỹ năng Nghe Thông thường, con người luôn nghe với một mục đích nhất định. Nếu mục đích của nghe chỉ để thư giãn, giải trí nhằm giải tỏa căng thẳng như nghe nhạc chẳng hạn thì người nghe hầu như không cần phải có bất kỳ một kỹ năng nào cả. Tuy nhiên, nếu mục đích nghe là để thu nhận thông tin, đặc biệt là khi nghe băng, đĩa ngoại ngữ để học tiếng, nghe người thực tế nói ngoại ngữ thì người học cần phải có một số kỹ năng như: phán đoán trước khi nghe, tập trung trong khi nghe, từ đó suy ra thông tin chính cần nghe từ những từ ngữ quan trọng trong bài (key words), phân tích, tổng hợp những thông tin nghe được. Kỹ năng nghe hiểu được tạo thành từ một loạt các kỹ năng riêng đó. Đa số người học đều có nhận định rằng một văn bản nếu ở dạng viết có thể đơn giản đối với họ trong xử lý thông tin, nhưng cũng văn bản đó ở dạng nói thì người học lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc nắm bắt nội dung chính của bài. Tại sao lại như vậy? Dưới đây là quan điểm của một số tác giả khi đưa ra những khó khăn mà người học thường gặp phải trong quá trình học kỹ năng nghe. I.5.1. Một số quan điểm về những khó khăn khi nghe.
- Theo Ur, P. (1996), tác giả của nhiều cuốn sách viết về việc dạy tiếng (language teaching) thì người học thường gặp phải những khó khăn sau đây trong khi học nghe: (1) Không nhận ra được các âm mà người Anh nói, (2) Có thói quen phải hiểu tất cả các từ trong câu mới hiểu được nội dung của bài, (3) Không thể hiểu được khi người Anh nói nhanh một cách tự nhiên, (4) Cần phải nghe nhiều lần mới có thể hiểu được,(5) Thấy khó có thể nắm bắt được tất cả các thông tin và không dự đoán được điều mà người nói sắp nói, (6) Nếu phải nghe kéo dài, người học sẽ cảm thấy mệt mỏi và thiếu tập trung. Khi đề cập đến những khó khăn của người học đối với môn nghe, hai nhà giáo học pháp ngoại ngữ là Nguyễn Bàng và Nguyễn Bá Ngọc cũng liệt kê ra 6 khó khăn sau đây: (1) Gặp khó khăn với các âm tiếng Anh, (2) Phải hiểu hết các từ, (3) Không hiểu được khi người Anh nói nhanh tự nhiên, (4) Thấy khó có thể theo kịp tốc độ nói của người Anh, (5) Cần nghe đi nghe lại nhiều lần, (6) Mệt mỏi và thất vọng. Trong cuốn ‘Teaching Listening’, Underwood (1989) cũng đưa ra một số khó khăn của người học nghe. Đó là: (1) Không theo kịp được tốc độ của người nói, (2) Không thể nhắc lại được thông tin, (3) Hạn chế về vốn từ vựng, (4) Không nhớ hết tất cả các thông tin nghe được, (5) Không nắm bắt được thông tin chính, (6) Không thể tập trung và (7) Không hình thành được thói quen nghe. Những khó khăn trong quá trình học kỹ năng nghe nhìn từ quan điểm của người học cũng được các tác giả Hoàng Văn Vân, Nguyễn Thị Chi và Hoàng Thị Xuân Hoa (2006) nêu ra trong cuốn ‘Đổi mới phương pháp dạy tiếng Anh ở Trung học Phổ thông Việt Nam’ như sau: (1) Khó khăn về nghe âm tiếng Anh, (2) Phải hiểu được tất cả các từ mới nắm bắt được ý định của người nói, (3) Không hiểu được người bản ngữ khi họ nói nhanh tự nhiên, (4) Cần phải nghe đi nghe lại nhiều lần, (5) Thấy khó nắm bắt được tất cả các thông tin và không dự đoán được thông tin tiếp theo, (6) Không tập trung khi nghe. Tóm lại, theo nhận định của các nhà khoa học kể trên thì người học thường gặp phải những khó khăn phổ biến sau đây trong khi nghe: (1) Không nhận ra các âm tiếng Anh, (2) Hạn chế về vốn từ vựng, (3) Thiếu tập trung khi
- nghe, (4) Khó có thể nắm bắt ý chính của bài nghe, (5) Cần nghe nhiều lần và (6) Không theo kịp tốc độ của người nói. I.5.2. Một số khó khăn phổ biến của học sinh không chuyên khi học nghe Bằng cách liệt kê ra những khó khăn của người học đối với môn nghe theo quan điểm của các nhà khoa học trình bày ở trên, chúng tôi đã xây dựng nên những câu hỏi điều tra nhằm thu thập thông tin thực tế phục vụ cho quá trình nghiên cứu tìm ra những khó khăn mà sinh viên không chuyên thường gặp phải trong quá trình học kỹ năng nghe. Trên thực tế, theo kết quả khảo sát gần 80 sinh viên năm thứ hai theo học khoa Văn hóa Du lịch trường Đại học Văn hóa Hà Nội thì có ba khó khăn phổ biến nhất trong việc học nghe là: (1) Không nhận ra các âm tiếng Anh (49%), (2) Thiếu tập trung khi nghe (57%), (3) Khó có thể nắm bắt ý chính của bài nghe (71%). I.6. Nguyên nhân của những khó khăn khi nghe I.6.1. Nguyên nhân của việc không nhận ra các âm tiếng Anh Khi được hỏi về nguyên nhân của việc gặp khó khăn với các âm trong tiếng Anh, 31% số học sinh tham gia điều tra cho rằng khó khăn này là do họ không phân biệt được các từ đồng âm, đặc biệt là các từ có cách phát âm gần giống nhau, 28% nhận định việc nhầm lẫn giữa dạng khẳng định và dạng phủ định là nguyên nhân chủ yếu. Đặc biệt là 40% số học sinh tham gia điều tra cho rằng họ không nhận ra thông tin chính cần nghe là do một vài đặc điểm trong phát âm chuỗi lời nói (connected speech) trong tiếng Anh như: hiện tượng nuốt âm (elision), dạng yếu (weak form) trong phát âm một số từ chức năng, hiện tượng đồng hóa âm vị (assimilation), hiện tượng rút gọn của từ (contraction), hiện tượng nối âm (linking). Như vậy, việc người học không nhận ra các âm trong tiếng Anh chủ yếu là do (1) không phân biệt được các từ đồng âm và các từ có cách phát âm gần giống nhau, (2) nhầm lẫn giữa dạng khẳng định và dạng phủ định, đặc biệt là do (3) một số ảnh hưởng về phát âm chuỗi lời nói trong tiếng Anh. I.6.2. Nguyên nhân của việc thiếu tập trung khi nghe
- Số liệu thu được từ cuộc điều tra cho thấy 30% số học sinh cho rằng nguyên nhân của việc thiếu tập trung khi nghe là do sức khỏe không tốt trong khi số lượng học sinh nhiều hơn (37%) coi việc thiếu kinh nghiệm khi nghe là nguyên nhân làm cho họ càng lúc càng cảm thấy khó tập trung vào bài nghe. Trong khi đó 32% số sinh viên tham gia điều tra nghĩ rằng khả năng kém tập trung của họ vào bài nghe là do cả hai nguyên nhân trên. Từ những số liệu này có thể kết luận rằng người nghe thường mất khả năng tập trung nghe khi (1) tình trạng sức khỏe không tốt và (2) thiếu kinh nghiệm trong nghe hiểu. I. 6. 3. Nguyên nhân của việc không thể nắm bắt ý chính của bài nghe Theo số liệu thu thập được thì đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra khó khăn trong khi nghe cho người học (71%). Khi được hỏi về nguyên nhân của khó khăn này, 36% số học sinh cho rằng họ khó có thể nắm bắt ý chính của bài nghe vì họ không biết đâu là thông tin quan trọng cần nghe trong bài, 37% số học sinh cho rằng việc họ không thể suy luận được nội dung chính của bài nghe từ những từ ngữ quan trọng (key words) làm cho họ không nắm bắt được ý chính khi nghe. Số học sinh chọn cả hai nguyên nhân là 25%. Những số liệu này cho thấy nguyên nhân của tình trạng khó có thể nắm bắt nội dung chính của bài nghe là (1) không phân biệt được thông tin cần nghe với những thông tin còn lại và (2) không suy luận được ý chính của bài nghe từ những từ ngữ quan trọng. I.7. Biện pháp khắc phục Những giải pháp được đưa ra xuất phát từ chính những nguyên nhân gây ra khó khăn cho người học với hi vọng có thể giúp người học phần nào khắc phục khó khăn, tìm ra phương pháp thich hợp nhất cho bản thân trong quá trình học kỹ năng nghe. I.7.1. Giải pháp cho việc không nhận ra các âm tiếng Anh I.7.1.1. Cách phân biệt các từ đồng âm, từ có cách phát âm gần giống nhau Dựa vào cách phát âm
- Cách này có thể áp dụng hiệu quả cho các từ có cách phát âm gần giống nhau vì chúng có trọng âm rơi vào các âm tiết khác nhau, ví dụ như thirteen / thirty và độ dài ngắn của các âm là khác nhau, ví dụ ‘ship/sheep’, ‘fit/ feet’. Dựa vào nghĩa của cả câu và chức năng của từ trong câu Các từ đồng âm được phát âm giống hệt nhau, rất dễ gây nhầm lẫn cho người nghe, ví dụ some / sum, I/ eye, son/ sun. Bên cạnh đó lại có những từ đồng âm và đồng cách viết mang nghĩa khác nhau (homonyms) như left, flat, saw, play, leave. Do vậy, người học cần phải dựa vào chức năng của từ đó trong câu, cấu trúc câu được tạo nên bởi từ đó, đặc biệt là ngữ cảnh của câu (context) để suy luận và chọn ra từ đúng. I.7.1.2. Cách khắc phục nhầm lẫn giữa dạng khẳng định và dạng phủ định Trong tiếng Anh, để phủ định, người ta thường dùng các trợ động từ trong câu. Ngoài ra, dạng phủ định của từ cũng có thể được tạo nên nhờ các phụ tố (tiền tố hoặc hậu tố) như: im- trong impossible, il- trong illegal, dis- trong dissatisfied, -less trong careless.Do đó, để tránh nhầm lẫn giữa dạng khẳng định và dạng phủ định trong bài nghe, người học cần đặc biệt chú ý đến các phụ tố, các trợ động từ cũng như một số yếu tố khác như giọng điệu của người nói và ngữ cảnh của câu. I.7.1.3. Cách khắc phục một số ảnh hưởng về cách phát âm chuỗi lời nói trong tiếng Anh Anne Anderson & Tony Lynch (1988) nhận định rằng một số ảnh hưởng về cách phát âm chuỗi lời nói trong tiếng Anh như dạng yếu trong phát âm một số từ chức năng (weak forms), hiện tượng rút gọn của từ (contractions), hiện tượng nuốt âm (elision), hiện tượng nối âm (linking),... gây cho người học khá nhiều khó khăn khi nghe, đặc biệt là với những người mới học ngoại ngữ. Do đó, sinh viên nên làm quen với những hiện tượng này bằng cách tìm học những ví dụ thường gặp và đặc trưng cho từng hiện tượng, tập phát âm các cụm từ đó, viết ra nhật ký học tập để ghi nhớ.
- Ví dụ: 1. Cách phát âm dạng yếu thường gặp trong chuỗi lời nói nhanh và đôi khi không mang tính nghi thức như: wanna, hafta, kuz, gonna, dunno, don’cha know. Đây là hình thức rút gọn của ‘want to, have to, because, going to, don’t know, don’t you know.’ 2. ‘kind of’ và ‘sort of’ đôi khi được rút gọn thành ‘kinda’ và ‘sorta’ 3. Những trợ động từ ‘would like, can, may, will, would, ought to, so on and so forth’ cũng thường được rút gọn trong câu nói. I.7.2. Giải pháp cho việc thiếu tập trung khi nghe I.7.2.1.Tránh hoặc khắc phục tình trạng sức khỏe không tốt Tình trạng sức khỏe không tốt như mắc bệnh hay mất ngủ, thiếu ngủ có thể gây cho người học mất tập trung khi nghe. Do vậy, người nghe cần phải tránh nhiễm bệnh, nếu chẳng may bị nhiễm bệnh cần tìm mọi cách khắc phục và tránh hiện tượng thiếu ngủ trước khi nghe, nhất là trước khi làm bài thi. I.7.2.2. Thường xuyên luyện tập nghe Trong khi nghe, một người nghe giàu kinh nghiệm bao giờ cũng có nhiều lợi thế hơn những người nghe ít kinh nghiệm do trong quá trình luyện tập, họ đã hình thành được một số kỹ năng. Do đó, để nâng cao khả năng nghe hiểu, người học ngoại ngữ nên tích cực luyện tập một cách hợp lý và có phương pháp. Bằng việc thường xuyên luyện tập và tiếp xúc với các tài liệu có mức độ thay đổi từ dễ đến khó, cùng với thời gian, người học sẽ hình thành được kỹ năng nghe. Sinh viên không chuyên trong hai năm đầu có thể sử dụng một số tài liệu phù hợp như sau: (1) Listen carefully (Jack C. Richards), (2) Ship or Sheep (Ann Baker), (3) Listen for it (Jack C. Richards, Deborah Gorbon, Andrew Harper), (4) Three or Tree (Ann Baker), (5) Think First Certificate (John Naunton) I.7.3. Giải pháp cho việc khó có thể nắm được ý chính của bài nghe I.7.3.1. Cách phân biệt thông tin cần nghe (relevant points) với những thông tin còn lại (irrelevant information) Thông thường, trước khi nghe, bao giờ người nghe cũng có một khoảng thời gian ngắn (1-2 phút) để đọc qua những câu hỏi yêu cầu hoặc nghe chỉ dẫn
- trong băng, đĩa. Nếu biết tận dụng những câu hỏi và chỉ dẫn này, người học có thể suy đoán thông tin cần nắm bắt và chủ đề của bài nghe, nhờ đó người nghe có thể vận dụng vốn hiểu biết của mình để có sự chuẩn bị trước về vốn từ và một số cấu trúc câu cần thiết. Nếu làm tốt điều này thì lượng thông tin cần ghi nhớ sẽ giảm đi, người nghe sẽ phần nào phân biệt được những thông tin cần nghe với những thông tin không quan trọng khác trong bài. I.7.3.2. Cách suy luận được ý chính của bài nghe qua từ ngữ quan trọng Những từ ngữ quan trọng trong bài là những từ ngữ mà dựa vào đó, người nghe có thể suy ra ý chính của bài nghe. Thường thì những từ này được nhấn mạnh trong câu hoặc có thể được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài. Chính vì vậy, người nghe nên dựa vào một số dấu hiệu ngôn từ (discourse markers) này để nắm bắt được ý chính của bài nghe. Ví dụ: Những cụm từ dùng để liệt kê ý chính: I would like to emphasize, The general point you must remember is, It is important to note that, I repeat that, Another thing is, Finally, That is, Now,... Những cụm từ được sử dụng để liệt kê ví dụ: such as, Let me give you some examples, For example/ instance, I might add, To illustrate thi spoint,... Những cụm từ thường dùng khi đề cập đến những vấn đề không quan trọng: By the way, I might note in passing,.... Ngoài ra, để có thể ghi nhớ hết những thông tin quan trọng trong bài, người nghe cần có sự ghi chép (take notes). Tuy nhiên, cần phải bố trí phần ghi chép cho hợp lý để dễ sử dụng và tránh gây nhầm lẫn. I.8. Các dạng bài tập nghe trong đề thi học sinh giỏi quốc gia Phần thi nghe trong đề thi học sinh giỏi Tiếng Anh thực sự không dễ dàng nếu chúng ta không thành thạo các kỹ năng nghe. Nghe là một trong những kỹ năng quan trọng và cần thiết với nguời học Tiếng Anh. Phần nghe trong đề thi học sinh giỏi quốc gia gồm 4 bài, 1 bài ielts, 1 bài trắc nghiệm và 2 bài nghe thực tế. về hình thức thì đa dạng , true - false, multiple choice và gap - filling trong đó gap-filling là chủ đạo. Trong đề thi nghe chia theo các phần: • Phần 1: Nghe một đoạn hội thoại giữa hai người và trả lời True/False cho 5 câu hỏi.
- • Phần 2: Nghe một đoạn tin tức từ đài BBC, sau đó chọn không quá 3 từ nghe được để điền vào mỗi chỗ trống. • Phần 3: Phần này khá khó, có thể là bản tin hoặc bản thuyết trình, đòi hỏi phải tập trung cao độ. Thí sinh cũng chọn không quá 3 từ nghe được để điền vào mỗi chỗ trống. • Phần 4: Phần này thường lấy từ sách CPE, thí sinh nghe một bài phỏng vấn sau đó chọn đáp án đúng nhất từ những đáp án có sẵn để hoàn tất câu hỏi. I.9. Tài liệu nghe thực tế I.9.1. Định nghĩa tài liệu thực tế Định nghĩa Marrow sẽ giúp chúng ta hiểu rõ về tài liệu thực tế. Ông liên hệ nó với một đoạn ngôn ngữ thực, được sản xuất bởi một diễn giả hoặc nhà văn thực sự cho một đối tượng thực sự và được thiết kế để mang một thông điệp thực sự của một loại nào đó. ((1977: 13) Harmer (1983, 146) nói rằng các văn bản thực tế (viết hoặc nói) là những thứ được thiết kế cho người bản ngữ: Chúng là những văn bản thực sự được thiết kế không dành cho học sinh, sinh viên ngôn ngữ, mà dành cho những người nói ngôn ngữ đang nói đến. Nunan (1989, 54) cho rằng quy tắc xác thực ở đây là bất kỳ tài liệu nào không được xuất bản riêng cho mục đích giảng dạy ngôn ngữ. Dựa trên những định nghĩa này, chúng ta có thể tìm thấy ý nghĩa thực sự của các tài liệu xác thực: chúng là ngôn ngữ thực sự; xuất bản cho người bản ngữ; được thiết kế mà không có mục đích giảng dạy. Theo nghĩa này, có một lượng lớn tài liệu xác thực trong cuộc sống của chúng ta như các bài báo và tạp chí, truyền hình và đài phát thanh, các cuộc trò chuyện hàng ngày, các cuộc họp, tài liệu, bài phát biểu và phim. Một trong những hữu ích nhất là Internet. Trong khi các tờ báo và các tài liệu khác hẹn hò rất nhanh, Internet liên tục được cập nhật, kích thích trực quan hơn cũng như tương tác. Nếu chúng ta muốn giới thiệu các tài liệu xác thực trong giảng dạy ngôn ngữ, trước tiên chúng ta cần phân loại chúng, bởi vì một số trong số chúng phù hợp cho việc dạy đọc và một số có hiệu quả khi được chuẩn bị cho việc dạy nghe và nói. Theo Gebhard (1996), vật liệu xác thực có thể được phân thành ba loại. 1. Tài liệu nghe -Authentic: Quảng cáo truyền hình, chương trình đố vui, phim hoạt hình, clip tin tức, chương trình hài kịch, phim, vở kịch, truyện ngắn và tiểu thuyết âm thanh chuyên nghiệp, quảng cáo đài, bài hát, phim tài liệu và quảng cáo bán hàng.
- 2. Tài liệu trực quan xác thực: trình chiếu, hình ảnh, tranh vẽ, tác phẩm nghệ thuật trẻ em, hình vẽ cây gậy, bảng hiệu đường phố không chữ, hình bóng, hình ảnh từ tạp chí, đốm mực, hình ảnh bưu thiếp, sách ảnh không chữ, tem và tia X. 3. Tài liệu in ấn: bài báo, quảng cáo phim, cột chiêm tinh, báo cáo thể thao, cột cáo phó, cột tư vấn, lời bài hát, thực đơn nhà hàng, bảng hiệu đường phố, hộp ngũ cốc, giấy gói kẹo, tờ rơi thông tin du lịch, danh mục trường đại học, danh bạ điện thoại, bản đồ, hướng dẫn truyền hình, truyện tranh, thiệp chúc mừng, phiếu mua hàng tạp hóa, ghim với tin nhắn và lịch trình xe buýt. Ở đây, chúng tôi chủ yếu tập trung vào các tài liệu nghe thực tế. Theo văn học, những cụm từ như ngôn ngữ thực tế, ngôn ngữ tự phát, trực tiếp, ngôn ngữ tự nhiên, trực tiếp, ngôn ngữ của người nói đã được sử dụng để xác định tài liệu nghe thực tế. Tác giả hiện tại nghĩ rằng định nghĩa phù hợp nên là các tài liệu nghe thực tế là các tài liệu ngôn ngữ nói tự nhiên như phỏng vấn, bài giảng, đối thoại, thảo luận và hội thoại, v.v. I.9.2. Tài liệu thực tế và không thực tế (Authentic vs Non-authentic materials) Trong tài liệu nghe thực tế, ngôn ngữ rất đa dạng, trong khi đó trong tài liệu nghe không thực tế thường được trích từ các sách và có một cấu trúc duy nhất được sử dụng lặp đi lặp lại. Sự tương phản giữa các nghe tài liệu thực tế và không thực tế dưới đây giúp cho thấy việc sử dụng các tài liệu thực sự như một phương tiện quan trọng để dạy học sinh giao tiếp hiệu quả (Hedge, 2008 AbdulHussein (2013), Verner). Dưới đây là sự khác nhau giữa tài liệu nghe thực tế và tài liệu từ các sách. Authentic Materials Non-Authentic Materials Tài liệu thực tế Tài liệu không thực tế Ngôn ngữ phục vụ mục đích giao Ngôn ngữ trong các bài nghe được tiếp thực tế hàng ngày thiết kế cho mục đích học cụ thể. • Language data produced for real They are specially designed for life communication purposes. learning purposes. Tài liệu thực tế có thể chứa bắt đầu Ngôn ngữ được sử dụng trong bài sai, và câu không đầy đủ. nghe này là nhân tạo. Chúng chứa các câu có cấu trúc hay. Tài liệu thực tế rất hữu ích trong Tài liệu này rất hữu ích cho việc dạy
- việc nâng cao các kỹ năng giao tiếp. ngữ pháp. Có ngữ điệu thực tế Ngữ điệu được cường điệu hóa Tốc độ đa dạng Tốc độ ổn định Có sự nhịp nhàng giữa các người Có sự gián đoạn và ngắt lời khi nói nói. Sử dụng tiếng lóng Hạn chế về mặt từ vựng Tiếng ồn xung quanh Không có tiếng ồn I.9.3. Các nguồn tài liệu nghe thực tế Tài liệu giảng dạy đóng một phần thiết yếu trong việc dạy và học ngoại ngữ. Trong thời đại công nghệ ngày nay, các tài nguyên cho việc dạy và học tài liệu được phổ biến rộng rãi cho mọi người. Mạng internet cung cấp một nguồn rất quan trọng và phong phú cho các tài liệu xác thực. Đối với kỹ năng nghe, các tài liệu thực tế bao gồm phim, tin tức trên đài, chương trình TV, phim hoạt hình, bài hát, quảng cáo, phát sóng tin tức, phim tài liệu, phim, tin nhắn điện thoại, vv. Đối với học sinh chuyên Anh tại trường trung học, các nguồn như tin tức BBC, tin tức VOA, tin tức CNN, podcast, các cuộc nói chuyện của Ted, v.v ... rất hữu ích. Những nguồn này cung cấp tin tức và thông tin về một loạt các chủ đề, phù hợp cho cả việc sử dụng trong lớp học và tự học. Nguồn Internet và tài liệu để nghe mở rộng Có rất nhiều nguồn Internet để học sinh mở rộng kỹ năng nghe trong và ngoài lớp học. Waring (2010) đã đề xuất một số trang web thích hợp để nghe rộng rãi, bao gồm cả những trang được liệt kê trong Bảng 1 phần phụ lục. I.9.4. Tại sao chúng ta nên sử dụng tài liệu nghe thực tế? Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, học sinh cần được tiếp xúc không chỉ với sự đa dạng của tiếng Anh như tiếng Anh, Mỹ, Úc, Nhật Bản hay tiếng Anh Singapore mà còn cả 'ngôn ngữ thực' để có thể đối phó với các phiên bản khác nhau và những thách thức thực sự đang chờ chúng ở thế giới bên ngoài. Có một số lý do tại sao giáo viên nên sử dụng các tài liệu thực tế, đặc biệt là đối với học sinh chuyên Anh ở trường trung học. Đầu tiên, các tài liệu thực tế sẽ có một số tính năng không thể tìm thấy trong sách tham khảo. Trong thực tế, có một khoảng cách đáng kể giữa ngôn ngữ đích thực và ngôn ngữ trong sách. Gilmore (2007) tuyên bố rằng ngôn ngữ được trình bày cho học sinh trong sách là "một trình bày nghèo nàn của vật thật" (a poor representation of the real thing). Ngôn ngữ sách được sửa đổi từ các nguồn ngôn ngữ thực tế để khuyến

