Phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong dạy học Ngữ văn
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong dạy học Ngữ văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
phat_trien_tu_duy_phan_bien_cho_hoc_sinh_trong_day_hoc_ngu_v.docx
Nội dung tài liệu: Phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong dạy học Ngữ văn
- 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong dạy học Ngữ văn” 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ tháng 3/2023 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không. 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: Dạy và học môn Ngữ văn tại trường THPT Mỏ Trạng trong nhiều năm qua đã có nhiều thay đổi về phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn. Trong các giờ học, các thầy cô đã có chú ý để phát huy tư duy phản biện cho học sinh, nhưng qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy vẫn còn rất nhiều hạn chế: - Trước hết rào cản lớn nhất cho những phản biện của học sinh trong dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng có lẽ là tư duy phản biện ở cả thầy và trò. Dường như những quan điểm truyền thống với những bức tường thành khổng lồ vẫn chưa sẵn sàng đón nhận tư duy phản biện. Khi đứng trên bục giảng, đôi khi giáo viên không muốn, không sẵn sàng cho việc học sinh phản biện lại những gì mình nêu ra. Có thể là do danh dự, uy tín thậm chí là sự hạn chế về chuyên môn Có người định kiến, cực đoan thì coi phản biện của học sinh là hành vi cãi lại thầy. Bên cạnh đó, ngày nay có nhiều học sinh chưa thật sự yêu thích, say sưa môn học. Khi không có sự đam mê thì không có động lực, hứng thú để tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo. Vì vậy, thầy nói sao thì nghe thế, thầy nói gì cũng cho là đúng. Không những thế, chương trình vẫn nặng tính hàn lâm, kiến thức nặng, trong khi đó học sinh chỉ lo “tải” cho hết kiến thức đã, còn đâu để nghĩ để nghi ngờ hay phản biện. - Thứ hai, học sinh cơ bản là thụ động trong tiếp nhận, tiếp thu kiến thức. Một sức ì rất lớn ở học sinh vẫn đang tồn tại mặc dù đã có thời gian thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Không hẳn là tất cả các em đều yếu kém, không có năng lực phản biện mà thực tế có những em có những dấu hiệu phản biện, có những vấn đề
- 2 đặt ra nhưng không có nhu cầu giải quyết vấn đề, không cởi mở trao đổi. Các em chưa có thói quen nghi ngờ kiến thức nên chưa hình thành tốt tư duy phản biện nhất là đối với học sinh yếu kém. - Thứ ba thực tế còn cho thấy, khả năng phản biện ở học sinh THPT còn tồn tại dưới dạng tiềm năng, chưa được khai thác. Nhiều học sinh muốn phản biện, hoặc đã từng phản biện nhưng chưa được giáo viên tạo điều kiện, chưa được các bạn trong lớp hưởng ứng chân thành. Có nhiều lí do khác nhau khiến cho việc phản biện chưa trở thành thói quen mà không có thói quen phản biện thì không thể trở thành kĩ năng được. Việc dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT vì thế mà cũng trở nên nhàm chán hơn, rơi vào hình thức truyền thụ một chiều. Học sinh nghe, hiểu và làm theo và không phản hồi. Nếu phát huy được khả năng phản biện vấn đề của học sinh, thì chắc chắn chất lượng dạy và học sẽ được nâng lên một mức đáng kể. Đó là những hạn chế cần phải được khắc phục cấp bách. Nếu không sẽ không thể đạt chất lượng, mục tiêu dạy học, giáo dục. 5. Sự cần thiết khi áp dụng giải pháp sáng kiến: 5. 1. Tính đặc thù của bộ môn Ngữ văn trong trường THPT Môn Ngữ văn là môn học đặc thù. Nó vừa là khoa học vừa là nghệ thuật (nghệ thuật ngôn từ). Việc cảm nhận, đánh giá một vấn đề văn học có thể thay đổi theo thời gian và theo thị hiếu thẩm mĩ của mỗi người, mỗi thời đại bởi “văn chương bất luận quán thiên hạ”. Ai cũng biết câu thơ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” của Quang Dũng đã từng bị tẩy chay, quy chụp là mang chút tư tưởng của giai cấp tiểu tư sản nhưng rồi vào những năm 90 lại được “lật ngược thế cờ”. Bài thơ Tây Tiến được nhìn nhận lại sau nhiều thăng trầm vì những ý kiến trái chiều đã được đưa về đúng vị trí của nó. Và câu thơ bị cho là “tiểu tư sản” kia lại là câu thơ hay về vẻ đẹp hào hoa của người lính Tây Tiến. Hay phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân vẫn được xem là “ngông” nhưng gần đây, cách nhìn nhận này đang “xung” với một luồng quan điểm trái ngược “không ngông” Mỗi lúc, trên diễn đàn báo chí lại nóng lên một chủ đề nào đấy của Văn học và việc dạy Văn: “mặt chữ điền” (trong Đây thôn Vĩ Giạ - Hàn Mặc Tử) hiểu thế nào? ; “sông” hay “sóng” (trong Sóng – Xuân Quỳnh) không hiểu nổi mình? Chí Phèo tỉnh – Chí Phèo say; có hay không cắt xén, thêm bớt phần kết thúc truyện cổ tích Tấm Cám? Nhiều vấn đề có nhiều cách hiểu, gây tranh cãi nhiều thập kỉ mà không tìm ra chân lí. Vì vậy trong học văn, rất cần có cái nhìn mới, cách
- 3 cảm mới để tìm ra những giá trị mới. Học sinh như những bạn đọc đồng sáng tạo có thể lập luận để đưa ra chân lí đúng đắn hơn cho vấn đề. 5.2. Nhu cầu và những dấu hiệu phản biện của học sinh Mặc dù có nhiều khó khăn, nhưng trong dạy học hiện nay ở trường THPT Mỏ Trạng học sinh cũng vẫn có những nhu cầu và dấu hiệu của phản biện. Bởi lẽ: Những tác phẩm văn học được đưa vào chương trình giảng dạy phần lớn đã “thuộc về một thời”. Giá trị một tác phẩm Văn học có thể “bất khả biến” nhưng các em lại là người của “hôm nay”, nhìn nhận đánh giá vấn đề luôn có xu hướng từ góc nhìn của con người hiện đại, từ cảm quan của con người mới. Điều đó rất dễ dẫn đến tâm trạng “bất hòa” với quá khứ, hay một sự “ấm ức” nào đó, hoặc có nhu cầu đánh giá lại, nhìn nhận lại vấn đề. Đó sẽ là nền tảng cho những phản biện bùng phát. Vậy nếu giáo viên không quan tâm đến điều này, bỏ rơi nhu cầu của người học thì sẽ đi ngược lại với tinh thần đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Học sinh ngày nay luôn có nhu cầu bộc lộ mình, nhất là trong những tình huống được động viên, khích lệ, có hứng thú. Khi đó mà có sự kết hợp với những hiểu biết sâu rộng vấn đề, sự định hướng khuyến khích của giáo viên thì các em sẽ thể hiện hết mình. Không khí tiết học trở nên “nóng” hơn! Do hạn chế về thời gian cũng như đặc thù của môn Ngữ văn nên không phải vấn đề nào đưa ra cũng giải quyết dứt điểm trong giờ học được. Những tình huống còn bỏ ngỏ trong các bài học luôn là xuất phát điểm cho những tìm tòi, khám phá, sáng tạo của học sinh, nhất là những học sinh yêu thích và say mê môn Văn (tuy số này không nhiều). Chẳng hạn: nếu cứ nhất định, khăng khăng phải hiểu cho ra lẽ khuôn “mặt chữ điền” kia là của ai? Hay chi tiết “Gục trên súng mũ, bỏ quên đời” (trong Tây Tiến - Quang Dũng) là hi sinh hay chỉ thiếp đi vì mệt?; Dòng thơ “không ai chôn cất tiếng đàn” (Đàn ghi ta của Lorca – Thanh Thảo) hiểu thế nào thì thuyết phục?; hoặc với Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, vấn đề đặt ra là cuối cùng khi kết thúc tác phẩm Phùng và Đẩu có giải quyết được bài toán của gia đình hàng chài không dù lòng tốt, công lí có đủ? Nguyên nhân sâu xa của bài toán đó là gì?; Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật cao siêu với lợi ích của nhân dân là mâu thuẫn muôn đời, và trong tác phẩm cũng chưa giải quyết dứt điểm thì chưa bao giờ có thể giải quyết hết trong giờ học. Những dấu hiệu trên đây cho thấy thực trạng dạy học Văn ở trường THPT còn nhiều điều cần quan tâm. Vì thế, phát huy khả năng phản biện của học sinh là
- 4 vấn đề cần được quan tâm và nhân rộng. 5.3. Những thuận lợi cho việc thực hiện dạy học phản biện a. Xu thế tất yếu của giáo dục Xu thế tất yếu của giáo dục là đào tạo những con người có khả năng nhạy bén, linh hoạt ứng biến và thuyết phục người khác bằng khả năng tư duy và lập luận của mình. Điều đó có nghĩa phản biện là năng lực quan trọng của mỗi con người trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay. Trong quy định về tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo thông tư số 13/2012/TT- BGDĐT, ngày 06/4/2012, chương II, điều 7, mục 2 có nói: “Hướng dẫn học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và biết phản biện ”. Đây là thuận lời từ chủ trương, định hướng của Bộ giáo dục, sự quan tâm của các cấp quản lí giáo dục. Từ thực tế của đời sống xã hội, ngành GDĐT đặt ra yêu cầu phải đào tạo được thế hệ người toàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc. Đồng thời có ý thức chủ động, tích cực bày tỏ quan điểm, lập trường trước những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, hướng tới chân lí của mọi vấn đề. Trong dạy học, tất cả các bộ môn cần rèn luyện cho học sinh biết tranh luận, phản biện vấn đề, tạo thói quen tốt trong nhìn nhận, đánh giá các vấn đề trong cuộc sống. Yêu cầu mang tính cấp thiết ấy cũng góp phần thực hiện mục tiêu kết hợp dạy “người” với dạy “chữ”, lí thuyết phải gắn với thực hành. Khả năng phản biện của học sinh trong quá trình học tập sẽ giúp học sinh phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong học tập, rèn luyện được khả năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm. Đặt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, mục tiêu đào tạo con người toàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc thì việc phát huy khả năng phản biện của học sinh lại cần hơn bao giờ hết. Khi nhà trường phổ thông trang bị cho thế hệ trẻ tư duy phản biện cũng có nghĩa là đã trang bị cho các em khát vọng đổi mới và khát vọng thành công trong cuộc sống. Hơn nữa nếu chúng ta muốn học sinh của mình có đủ bản lĩnh, tự tin để tham gia các chương trình đào tạo tiên tiến trên thì việc rèn luyện năng lực phản biện cho họ ngay từ khi còn ở cấp THPT là điều thiết thực và quan trọng. b. Phản biện trong dạy học ở Việt Nam: Ở Việt Nam, các nhà giáo dục cũng đã quan tâm đến phát triển tư duy phản biện cho học sinh. Tiến sĩ Bùi Trần Phượng - Hiệu trưởng Trường Đại học Hoa Sen,
- 5 nói: “Giáo dục, nhất là giáo dục Đại học, không chỉ cung cấp kiến thức mà quan trọng hơn là rèn luyện phương pháp tư duy. Người học phải biết đánh giá thông tin, có quan điểm phản biện để làm rõ vấn đề”. Quy định về tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo Thông tư số: 13/2012/TT-BGDĐT, ngày 06 tháng 4 năm 2012, chương II, điều 7, mục 2c có nói : “Hướng dẫn học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và biết phản biện”. Việc đổi mới kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ văn theo hướng tăng tính mở trong đề bài, nhất là phần nghị luận xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh chủ động, sáng tạo trong trình bày, lập luận theo quan điểm của mình. Đó chính là cơ hội phát huy khả năng phản biện của học sinh. c. Những yếu tố khác tạo thuận lợi cho việc thực hiện dạy học phản biện: Thứ nhất, bộ môn Ngữ văn vừa là khoa học, vừa nghệ thuật. Môn mở ra trước mắt người học cả một chân trời tri thức và khả năng liên tưởng so sánh, cảm nhận, thẩm bình, đánh giá không giới hạn. Mục tiêu dạy học của bộ môn Văn cũng khá phức hợp nên vấn đề mở là chủ yếu. Thứ hai, việc đổi mới kiểm tra, đánh giá của bộ môn Ngữ Văn gần đây làm sống dậy mạnh mẽ ý thức cá nhân người học. Họ có thể thoải mái bộc lộ quan điểm riêng của bản thân, tiêu chí đúng, sai được thay bằng lập luận có thuyết phục hay không? Đây là cơ hội để học sinh phát huy tối đa các năng lực của bản thân. Thứ ba, trong bối cảnh hiện nay, toàn ngành đang thi đua “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, hướng tới dạy học phát huy phẩm chất, năng lực thì càng chú trọng tới tính sáng tạo của học sinh. Cùng với không khí học tập đầy ắp tính dân chủ của nền giáo dục hiện đại cũng tạo nhiều cơ hội cho người học phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân. Thứ tư, sự tương tác giữa học sinh và giáo viên khi sử dụng các phương pháp tích cực trong quá trình dạy học nhiều khi làm lóe sáng trong người học những ý tưởng kì diệu, từ đó các em có cơ hội bày tỏ quan điểm cá nhân. Thứ năm, chất lượng đầu vào của trường THPT Mỏ Trạng tuy thấp nhưng một số năm gần đây có được cải thiện, mũi nhọn ít nhưng không phải không có. Tóm lại, tư duy phản biện rất cần cho xã hội vì nếu không có tư duy phản biện thì xã hội không phát triển và xã hội sẽ dần đi đến thoái bộ, thậm chí là thụt lùi. Mỗi con người cần phải có tư duy phản biện trong đời sống, trong nhận thức,
- 6 trong từng quyết định của mình. Nếu có tư duy phản biện sẽ làm xã hội mở, xã hội phát triển.Tư duy phản biện giúp chúng ta không nhìn vấn đề một chiều mà nhìn đa chiều. Khi tiếp nhận thông tin, tư duy phản biện giúp bảo vệ chính kiến của mình, đồng thời khi được phản biện thì học hỏi thêm cách nghĩ khác, nhìn vấn đề sâu sát hơn. Nếu không dạy học phát triển tư duy phản biện thì việc học Ngữ văn nói riêng, việc học nói chung sẽ tiếp tục rơi vào nhàm chán, người học không hứng thú, dạy học không đạt hiệu quả và hệ lụy tất yếu đầu ra sẽ là những con người thụ động, thiếu sáng tạo, thiếu kỹ năng quan trọng và cần thiết cho sự phát triển. Nếu đầu ra là con người thụ động thì sẽ không đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn, của thời đại hội nhập và phát triển hiện nay. Không thực hiện được mục tiêu của giáo dục: “đào tạo những con người có khả năng nhạy bén, linh hoạt ứng biến”, “đào tạo thế hệ người toàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc”. Chúng ta sẽ không theo kịp xu thế giáo dục hiện đại. Tư duy phản biện vô cùng cần trong xã hội chúng ta, càng cần hơn bao giờ hết khi thông tin đến quá nhanh, quá mạnh, quá lớn. Vì những lí do trên (những yêu cầu cấp bách của thực tế, thời đại, những tồn tại cần khắc phục của thực trạng dạy học Ngữ văn và những thuận lợi tạo nên khí quyển tốt cho việc thực hiện) nên chúng tôi lựa chọn giải pháp “Phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong dạy học Ngữ văn”. Đây không phải là vấn đề bây giờ mới được bàn đến. Song hi vọng với tinh thần cởi mở và phạm vi ứng dụng cụ thể cho bộ môn Ngữ văn chúng tôi sẽ giúp giáo viên và học sinh đáp ứng những đòi hỏi thiết thực của giáo dục và của thực tiễn hiện nay 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Xuất phát từ thực trạng đã nêu và trên cơ sở kế thừa, phát huy thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, sáng kiến kinh nghiệm “Phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong dạy học Ngữ văn” hướng tới các mục đích cơ bản sau: - Phát triển năng lực phản biện cho học sinh để từ đó hình thành cho học sinh kĩ năng sẵn sàng trình bày quan điểm, ý kiến của mình trước các vấn đề trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống; đấu tranh chống lại những điều mà mình không thấy hợp lí.... - Nâng cao hứng thú và niềm yêu thích của học sinh đối với bộ môn Ngữ văn.
- 7 - Nâng cao hiệu quả dạy và học Ngữ văn, theo đó nâng cao sự tác động tích cực của văn học với đời sống, giúp người học bồi dưỡng tâm hồn, hoàn thiện nhân cách và vững vàng hơn trong cuộc sống - Giúp đồng nghiệp có một tài liệu cần thiết, bổ ích đáp ứng tốt nhu cầu của học sinh, của các thầy cô giáo và yêu cầu dạy văn, học văn hiện nay trên địa bàn huyện và tỉnh. - Khơi gợi hứng thú của các thầy cô giáo phụ trách môn Ngữ văn trong việc tìm ra những phương pháp khơi gợi và rèn năng lực phản biện cho học sinh. 7. Nội dung: 7.1 Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 7.1.1. Thuyết minh về giải pháp a. Giải pháp 1: * Tên giải pháp: Hình thành tư duy phản biện cho học sinh * Nội dung và cách thức tiến hành: “Phản biện” (Opponency) là dùng lý lẽ và dẫn chứng để lập luận chống lại một ý kiến, quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá, hành động, việc làm nhằm thuyết phục người nghe nhìn nhận, đánh giá vấn đề theo cách khác có sức thuyết phục hơn, đúng hơn. Phản biện được xây dựng trên tinh thần đối thoại, do đó nó có tính tích cực và xây dựng. Mục tiêu chính của phản biện là thúc đẩy mọi người cân nhắc lựa chọn cái tối ưu. Mục tiêu thứ hai của phản biện là buộc đối tượng bị phản biện phải tăng cường sự thuyết phục cho các quan điểm của họ. Họ phải chứng minh là họ đúng hơn. Về phương diện chính trị và xã hội, với hai mục tiêu ấy (tìm cái tối ưu và thuyết phục), phản biện rõ ràng là một điều cần thiết không những để tránh những chính sách sai lầm mà còn để thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, quá trình hiện đại hóa của đất nước. “Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề. Lập luận phản biện phải rõ ràng, lôgíc, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm” (Theo tài liệu tập huấn về Kỹ Năng Sống của tổ chức World Vision Việt Nam,). Tóm lại, tư duy phản biện là “NGHĨ KHÁC”, biết nhìn vấn đề với một suy nghĩ khác, biết ẩn ý đằng sau mỗi thông tin, biết mở rộng vấn đề, đào sâu vấn đề. Tư duy phản biện đòi hỏi phải có tư duy rõ ràng, lập luận phải có dẫn chứng,
- 8 luận cứ phải thuyết phục, đáng tin cậy, thông tin có thể kiểm chứng được. Tư duy mở (open-minded): không bị đóng khuôn trong định kiến. Thái độ mở (open- hearted): mong muốn mở rộng vấn đề. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, chúng ta nên tập trung hơn nữa vào việc dạy học sinh tư duy phản biện. Để phát triển tư duy phản biện cho học sinh, trước tiên là cần cho học sinh hiểu rằng việc phản biện lại một nội dung, vấn đề do người khác nêu là việc làm tích cực để đạt đến tính tối ưu của chân lí chứ không phải là hành vi khiếm nhã, ngông cuồng hay vô lễ như vẫn thường hiểu. Tư duy phản biện là một khâu quan trọng trong quá trình học tập. Để hình thành tư duy phản biện cần phải tạo cho học sinh thói quen luôn nghi ngờ kiến thức: “Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại”. Thói quen này giúp học sinh chủ động trong học tập, vận dụng kiến thức một cách có hiệu quả vào thực tế. Hình thành tư duy phản biện cần có những bước sau: - Đọc và theo dõi những bước đi của luận cứ nhằm xác định các tiền đề và các kết luận mà tác giả luận cứ nêu. Phải đặt ra những câu hỏi nghi vấn như: tại sao lại như thế? Bản chất vấn đề là gì? Nếu thế này, thế kia thì sao? v.v - Nếu trong luận cứ, ta thấy không có suy luận mà chỉ là những khẳng định, thì luận cứ chỉ chứa đựng những thông tin, có thể chính xác hay sai lệch; lúc ấy ta có quyền không quan tâm đến những gì mà tác giả của luận cứ muốn thuyết phục người nghe. Bởi kết luận rút ra từ những luận cứ đó có thể không có sức thuyết phục. - Trong trường hợp kết luận không thuyết phục, có nghĩa là nó mang tính ngụy biện, cần xem xét lại. Có nên chấp nhận những kết luận mà tác giả đã nêu hay không? Đây là điểm mấu chốt của tư duy phản biện. Bởi vì nếu ta chấp nhận tập hợp các luận cứ, tức là ta hoàn toàn chấp nhận kết luận của tác giả; ngược lại, nếu ta phủ nhận những luận cứ này có nghĩa là ta không chấp nhận kết luận. Cách đánh giá vấn đề, chấp nhận hay từ chối phải dựa trên kiến thức đã được tích lũy của mình, dựa trên kinh nghiệm và lòng tin cá nhân. Kiến thức phụ thuộc vào môi trường giáo dục, phương pháp giảng dạy của người thầy cũng như phương pháp học tập của học sinh; kinh nghiệm phụ thuộc vào môi trường xã hội và cuối cùng là lòng tin lại phụ thuộc vào môi trường giáo dục gia đình. Trong quá trình vận dụng tư duy phản biện, bất cứ ở tại thời điểm nào, người học cũng phải sẵn sàng động não, suy luận và đánh giá; những hoạt động này sẽ tạo
- 9 thành một phong cách tư duy, luôn luôn sẵn sàng lắng nghe, nhưng trước khi chấp nhận bất cứ ý kiến nào, người học phải chủ động phân tích và đánh giá. Hoạt động của não bộ theo phong cách này sẽ giúp người học hình thành vững vàng tư duy độc lập và tư duy phản biện. Với tư duy độc lập và tư duy phản biện như nền tảng, và với kiến thức tích lũy thành hệ thống, học sinh sẽ có điều kiện phát triển tư duy sáng tạo của mình. Tư duy phản biện không thể có ngay lập tức mà cần có quá trình. Trước hết, công việc này phải làm thường xuyên, liên tục qua tất cả các môn học chứ không phải chỉ có môn Ngữ văn, dần dần mới trở thành thói quen tư duy phản biện. Đối với môn Ngữ văn, khi dạy đọc, dạy học, giáo viên có thể tạo ra tình huống để học sinh có những câu hỏi nghi ngờ vấn đề để qua đó bồi dưỡng tư duy phản biện cho học sinh ngay khi bắt đầu bài học. Chẳng hạn như với bài Đây thôn Vĩ Dạ chúng ta có thể nêu các vấn đề như sau: Hàn Mặc Tử có ngỏ lời với Hoàng Cúc khi làm nhân viên ở sở Đạc Điền thì sao? Hoàng Cúc biết được tình cảm của Hàn Mặc Tử dành cho mình, thì tình cảm của Hoàng Cúc như thế nào? Tại sao Hàn Mặc Tử lại viết bài thơ khi nhận được tấm bưu ảnh Hoàng Cúc gửi? Tại sao niềm trong đau thương của Hàn Mặc Tử lại chan chứa tình yêu đời tha thiết?... * Kết quả: Chú trọng bỗi dưỡng cho học sinh về tư duy phản biện đã giúp các em có nhận thức đúng đắn về bản chất, cũng như vai trò quan trọng của tư duy phản biện trong học tập cũng như trong cuộc sống. Từ đó các em có ý thức trong việc bồi dưỡng tư duy phản biện cho bản thân, sẵn sàng hơn trong việc đưa ra ý kiến, quan điểm riêng của mình trước những tình huống có vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc sống. Và khi tư duy phản biện đã được hình thành, cùng với quá trình học tập, trải nghiệm và rèn luyện, tư duy phản biện sẽ ngày càng được phát triển trong năng lực tư duy của học sinh, đóng góp quan trọng trong học tập và cuộc sống. b. Giải pháp 2: * Tên giải pháp: Thiết kế hệ thống câu hỏi nêu vấn đề tạo “tình huống có vấn đề” * Nội dung và cách thức tiến hành: Tư duy của con người thường bắt nguồn từ những trở ngại về mặt trí tuệ. Nói cách khác đó là những thắc mắc, ngạc nhiên những rào cản buộc con người phải suy nghĩ để tìm ra câu trả lời. Đó là tình huống có vấn đề. Các nhà nghiên cứu cho rằng quá trình tư duy được thực hiện trong tình huống có vấn đề, tình huống có vấn đề là
- 10 khâu trung tâm để hình thành tư duy. Tình huống có vấn đề là tình huống luôn chứa đựng vấn đề mâu thuẫn và kích thích người học mong muốn, hứng thú giải quyết. Giáo viên sẽ tạo ra, nêu lên những nghi vấn nhằm hướng suy nghĩ tích cực, có tính định hướng để học sinh tự kiến tạo kiến thức khi tiến hành giải quyết các tình huống có vấn đề. Câu hỏi nêu vấn đề mang bản chất sáng tạo, và phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức. Câu hỏi nêu vấn đề đặt học sinh trước những mâu thuẫn về cái chưa biết và cái đã biết, cái thông thường - cái bất thường, cái cũ – cái mới Mâu thuẫn đó làm nảy sinh nhu cầu nhận thức, nhu cầu giải quyết mâu thuẫn, khi đó phản biện bùng nổ. Ví dụ: Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, nhân vật Mị khi bị bắt về làm dâu nhà thống lí Pá Tra đã có ý định tự tử vì quá uất ức. Vì thương cha nên Mị không nỡ chết. Nhưng sau một thời gian, khi cha Mị chết rồi, Mị không còn nghĩ đến cái chết nữa mà chấp nhận thân phận làm dâu gạt nợ Giáo viên có thể nêu vấn đề - đặt câu hỏi: Tại sao khi cha chết rồi Mị không nghĩ đến cái chết nữa? + Khi đứng trước câu hỏi – mâu thuẫn trong tình huống này, học sinh sẽ có sự ngạc nhiên: Vì sao Mị lại mâu thuẫn (“muốn chết nhưng không thể chết vì thương cha” mâu thuẫn với việc “cha chết rồi Mị lại không nghĩ đến cái chết nữa”) như vậy? Lí do gì khi cha chết rồi Mị lại “không còn nghĩ đến cái chết nữa”. Chính sự ngạc nhiên, mâu thuẫn của tình huống đó sẽ thúc đẩy học sinh suy nghĩ, tìm tòi và lí giải. + Đó là khi Mị muốn chết, vì Mị vốn và vẫn còn là con người, có khát vọng sống, khát khao hạnh phúc, khước từ kiếp sống nô lệ tê buốt trong nhà thống lí (song vì thương cha Mị không thể chết). Nhưng khi cha chết rồi, Mị lại không nghĩ đến cái chết. Bởi lúc đó, ở lâu trong cái khổ, Mị quen rồi. Sự chà đạp, áp chế của cha con thống lí đã khiến cho Mị tê liệt về ý thức, trở nên vô cảm, câm lặng và thỏa hiệp với kiếp sống nô lệ, kiếp sống con vật trong nhà thống lí. + Từ đó, học sinh thấy được cái nhìn hiện thực, nhân đạo sâu sắc và sự am hiểu tâm lí nhân vật của nhà văn Tô Hoài trong tác phẩm * Kết quả: Nhờ hệ thống các câu hỏi có vấn đề, học sinh đã đứng trước việc bắt buộc phải đưa ra ý kiến, quan điểm của mình trong bài học. Đặc biệt là những với những câu hỏi đưa ra vấn đề có những ý kiến trái chiều đã kích thích học
- 11 sinh phản biện, tranh luận trong giờ học, cũng nhờ đó giờ học trở nên hứng thú hơn, hiệu quả hơn, nhiều vấn đề của bài học được vỡ ra, những điều học sinh nhận được từ giờ học cũng tăng lên đáng kể. Không những vậy khi tham gia vào việc tranh luận những câu hỏi có vấn đề cũng khiến cho các năng lực khác của họ sinh được bồi dưỡng như năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, năng lực trình bày vấn đề và cũng học được kĩ năng cần có khi tham gia các cuộc tranh luận, bảo vệ ý kiến quan điểm của mình trong cuộc sống. c. Giải pháp 3: * Tên giải pháp: Khích lệ, động viên, mở đường * Nội dung và cách thức tiến hành: Trong quá trình dạy học cần có sự khích lệ, động viên. Thái độ này của giáo viên sẽ có ảnh hưởng tích cực đến tất cả học sinh. Đặc biệt là những học sinh nhút nhát, rụt rè, thụ động, ít tham gia phát biểu, đối thoại. Nhiều học sinh có tư duy phản biện rất tốt, nhưng do tính cách nhút nhát, không thích thể hiện mình nên các em ít tham gia xây dựng ý kiến. Cũng có nhiều học sinh do sợ nói sai sẽ bị thầy, cô phê phán nên cũng không dám nói. Chính vì thế giáo viên nên khéo léo khích lệ các em bằng thái độ chân thành. Chẳng hạn trước một tình huống phản biện khó hãy động viên học sinh: Các em cứ mạnh dạn đưa ra quan điểm của mình, nếu sai chúng ta sẽ bàn bạc lại. Nhưng biết đâu suy nghĩ trong đầu các em bây giờ lại là một phát kiến vĩ đại. Nếu không nói ra thì thật đáng tiếc. Hoặc khích lệ: Đừng sợ nói sai, hãy sợ chúng ta không dám nói. Hoặc: Cố lên nào, chúng ta sắp tìm ra chân lí... Thậm chí khích lệ bằng phần thưởng cũng là một cách vô cùng hiệu quả. Những lúc như thế các em sẽ cảm thấy tự tin hơn và đang có đồng minh bên cạnh. Tất nhiên việc này đòi hỏi sự chân thành từ phía giáo viên. Khen hay chê đều là một nghệ thuật. Nếu khen không đúng lúc sẽ trở thành “ba phải”, nếu chê không biết cách sẽ làm các em sợ hãi, lần sau không dám nói. Cho nên giáo viên nên biết cách “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. * Kết quả: Nhờ việc khích lệ đúng lúc, kịp thời học sinh đã thấy mình được tôn tọng, được làm chủ, tự tin hơn và sẵn sàng tâm thế cho việc đưa ra ý kiến trong những tình huống có vấn đề. Mỗi học sinh đều có những chủ kiến riêng của mình trước những vấn đề trong học tập, nhưng đôi khi vì ngại hoặc sợ thầy cô, hoặc sợ sai... mà các em không dám đưa ra quan điểm, ý kiến của riêng mình. Nhưng khi được khích lệ, động viên các em đã mạnh dạn hơn rất nhiều, dám trình bày quan
- 12 điểm của mình trước thầy cô và các bạn. Và tạo nên một hiệu ứng, một học sinh dám phát biểu đưa ra ý kiến, các học sinh khác cũng sẽ tự tin mà đửaa quan điểm của mình. Nhờ vậy tư duy, cũng như năng lực phản biện của học sinh ngày càng được bộc lộ và phát triển, đem lại nhiều ý giá trị tích cực. d. Giải pháp 4 * Tên giải pháp: Tạo không khí đối thoại tự do, dân chủ trong giờ học. * Nội dung và cách thức tiến hành: Giờ dạy học Ngữ văn phải tạo được không khí cảm xúc, sự đồng cảm, giao cảm, cộng hưởng xúc cảm giữa nhà văn – giáo viên – học sinh. Học sinh “trò chuyện” với nhà văn thông qua tác phẩm trung gian. Giáo viên là người hướng dẫn tổ chức cho cuộc đối thoại đó thật sự tự nhiên, bình đẳng, làm sao lôi cuốn và lay động được từng học sinh trong lớp học. Đó chính là hạt nhân của quá trình dạy học tác phẩm văn chương trên lớp. Mọi ý kiến của học sinh đều được trân trọng. Không khí đối thoại tự do dân chủ sẽ giúp cho quá trình học tập có hiệu quả cao hơn. Để tạo được không khí đó, giáo viên với vai trò tổ chức, tham vấn, chia sẻ luôn phải tỏ ra công tâm, khách quan trong đánh giá vấn đề. Cần khéo léo gợi mở vấn đề, tạo không khí học tập, kích thích tính tò mò hoặc tính hiếu thắng ở các em. Không nên đưa ra những phán quyết mạnh mẽ với những ý kiến trái chiều của các em, mà hãy tìm cách khích lệ, động viên để các em nói hết lập luận của mình. Tất nhiên việc này sẽ rất mất thời gian, nhưng đừng vì thế mà e ngại, lo lắng. Hãy lắng nghe và tôn trọng những ý kiến của các em và hãy dùng nghệ thuật sư phạm, kinh nghiệm giảng dạy để điều tiết bài học. * Kết quả: Nhờ việc tạo không khí thoải mái, dân chủ trong giờ học mà học sinh không e ngại lo lắng, mà sẵn sàng bày tỏ những điều còn băn khoăn, những ý kiến về vấn đề mà các em chưa cảm thấy thỏa đáng. Chính nhờ vậy mà nhiều vấn đề của bài học được nhìn nhận một cách thấu đáo hơn, giờ học sôi nổi, học sinh hứng thú với bài học. Cũng vì thế mà sự yêu thích của học sinh với bộ môn, cũng như chất lượng bộ môn cũng được cải thiện đáng kể. e. Giải pháp 5 * Tên giải pháp: Thiết kế các hoạt động cụ thể trong giờ học để phát triển tư duy phản biện cho học sinh: * Nội dung và cách thức tiến hành: e1. Tạo tâm thế nhập cuộc cho học sinh thông qua tình huống có vấn đề làm
- 13 nảy sinh phản biện (nảy sinh cách nhìn mới) trong hoạt động khởi động - Nội dung: Trong hoạt động khởi động tiết học giáo viên sẽ đặt ra những tình huống có vấn đề liên quan đến bài học để cho học sinh tranh luận, phản biện đưa ra ý kiến để tạo hứng thú và tâm thế nhập cuộc học sinh với giờ học. - Cách thức tiến hành: Thông thường các giáo viên sẽ dùng lời dẫn để kéo học sinh nhập cuộc. Lời dẫn của giáo viên càng hấp dẫn, mới mẻ, sáng tạo càng có khả năng nhanh chóng xác định tâm thế sư phạm cho học sinh tập trung chú ý và có ý thức huy động hứng thú cá nhân vào các bài học. Ví dụ: Khi dạy đọc hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, có thể dẫn dắt: Hàn Mặc Tử là một tài năng thơ đặc biệt trong phong trào Thơ Mới. Đương thời dư luận đánh giá tài năng của ông rất khác nhau. Có ý kiến cho rằng: “Hàn Mặc Tử? Thơ với thẩn! Toàn nói nhảm”. Còn Chế Lan Viên thì quả quyết: “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại cái của thời kì này một chút gì đáng kể - đó chính là Hàn Mặc Tử”. Em tán đồng quan điểm nào? Hãy chứng minh quan điểm của mình qua bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. Nhưng ở đây, cách hiệu quả mà chúng tôi đã làm là tạo tình huống có vấn đề làm nảy sinh nhu cầu phản biện. Đẩy học sinh vào tình huống có mâu thuẫn, ở đó các em được trải nghiệm cảm xúc và từ đó kích thích sự tò mò, làm nảy sinh mẫu thuẫn trong nhận thức, khi đó nhu cầu bức xúc được giải quyết vấn đề sẽ bùng phát trong tâm lí học sinh. Vì vậy các em sẽ thoát nhanh ra khỏi ức chế ban đầu và tiếp nhận yêu cầu mới. Ví dụ: Khi dạy đọc hiểu văn bản “Chiếc thuyền ngoài xa”: Có thể thực hiện việc này bằng cách tạo tình huống có vấn đề làm nảy sinh phản biện trong hoạt động khởi động như sau: Cách một là: + GV chiếu 2 hình ảnh một bàn tay sẵn sàng nâng đỡ và hình ảnh một trái tim gắn với đôi bàn tay và nêu vấn đề: 1. Nhìn vào bức ảnh thứ nhất em nhận thấy điều gì? + HS: chia sẻ + GV: Thấy một bàn tay sẵn sàng nâng đỡ. Một trái tim gắn với đôi bàn tay. Khi ta đưa đôi bàn tay cho một ai đó trong cuộc đời này là muốn gửi đến họ thông điệp giúp đỡ, sẻ chia. Bởi ta tin rằng (nhìn vào hình ảnh thứ 2) bóng đêm sẽ tan, mặt
- 14 trời sẽ lên, hạnh phúc sẽ mỉm cười. Vịn vào lòng tốt, chúng ta làm cho cuộc đời thêm ý nghĩa. 2. Nhưng em sẽ cảm giác thế nào nếu người cần giúp đỡ nhất định, quyết liệt từ chối lòng tốt của em. Em đã từng trải nghiệm cảm xúc ấy chưa? Hãy chia sẻ cảm giác của em ngay khi đó và sau khi đó? + HS: chia sẻ + GV: Nếu điều đó xảy ra, có thể chúng ta sẽ rất buồn, nhưng chắc chắn trong ta sẽ diễn ra sự tư duy, nhu cầu nhận thức, tìm hiểu tại sao họ lại từ chối! Cách hai là: + Chiếu hai hình ảnh: một hình ảnh là cảnh làng quê bình yên, một hình ảnh là chim mẹ đang ấp ủ chim con trong bầu trời bão tố. Sau đó đặt vấn đề “Bức ảnh nào mang lại cảm giác bình yên cho em?” + HS: chia sẻ : Các ý kiến đều chọn bức ảnh cảnh làng quê bình yên. + GV: Nói rõ nội hàm bình yên của Bức ảnh chim mẹ ấp chim con giữa bầu trời bão tố (Cảm giác bình yên của chú chim con được ấp ủ trong lòng mẹ, nương náu trong lòng mẹ giữa bão tố mang lại cảm giác ấm áp, bình yên muôn thuở). Như vậy trước một vấn đề, một sự vật hiện tượng mỗi người có cách nhìn một vấn đề theo các chiều hướng không giống nhau. Song cần nhìn cuộc đời, con người như thế nào cho đúng đắn, cho hết lẽ, đúng với bản chất của cuộc đời, con người, tránh ngộ nhận? Chúng ta sẽ đi tìm câu trả lời qua bài học Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. - Kết quả: Với biện pháp này giáo viên tạo được tâm thế nhập cuộc, khơi dậy trong học sinh hứng thú tiềm tàng và động cơ học tập tích cực, khơi dậy khát khao giao cảm với thế giới nghệ thuật, khơi dậy nhu cầu giao tiếp và đối thoại với nhà văn một cách tự nhiên, nhu cầu tự bộc lộ của bản thân, và năng lực sáng tạo trong quá trình tiếp nhận. Tình huống đó không chỉ dùng để mở đầu bài học mà còn duy trì một cách thích hợp xuyên suốt toàn bộ quá trình tiếp nhận, phân tích, cắt nghĩa, đánh giá tác phẩm. e2. Tổ chức cho học sinh tranh luận, phản biện trong hoạt động hình thành kiến thức mới, củng cố, luyện tập. - Nội dung: Đây là khâu quan trọng nhất của giờ học dạy học phát triển năng lực phản biện. Lúc này học sinh sẽ trình bày quan điểm của mình trước tập thể và quan trọng
- 15 hơn là các em trực tiếp đối thoại với các bạn học sinh khác để bảo vệ quan điểm của mình. Học sinh sẽ đưa ra hàng loạt những lí lẽ, dẫn chứng và sắp xếp chúng theo một trật tự hợp lí để thuyết phục những người khác tán đồng quan điểm với mình. Cũng trong hoạt động này, học sinh có thể sẽ phải trả lời những câu hỏi do các bạn khác đặt ra. Điều này đòi hỏi các em phải có một thói quen tư duy biện chứng rõ ràng, khả năng ứng biến mau lẹ trước các tình huống phát sinh, và tất nhiên là phải hiểu về tác phẩm văn học một cách tường tận. Hơn thế học sinh còn cần phải biết cách quan sát, đánh giá thái độ của những người nghe xung quanh mình để điều chỉnh ngữ điệu, thái độ, lời văn... cho phù hợp. Thiết nghĩ con đường này sẽ cho học sinh nhiều bài học để trưởng thành hơn cả về trong tri thức lẫn cuộc sống. Trong quá trình tổ chức học sinh phản biện, giáo viên phải làm tốt vai trò là người tham dự - chia sẻ hoặc có khi phải làm trọng tài nếu cuộc “khẩu chiến” vượt ra khỏi khuôn khổ quy định. Trên thực tế đây là lúc giáo viên thu nhận được nhiều thông tin phản hồi nhất. Giáo viên vừa có thể nắm bắt được mức độ hiểu bài của học sinh để xem xét các biểu hiện lệch lạc nhằm kịp thời uốn nắn, vừa quan sát được thái độ, hứng thú học tập của các em. Giáo viên phải thiết kế được hệ thống câu hỏi “có vấn đề”. Kỹ năng phản biện là hệ thống các kĩ năng trong từng khâu của quá trình để đưa ra một phản biện, bao gồm những kĩ năng chủ yếu: tư duy độc lập, phân tích – tổng hợp, lập luận, đánh giá... Với kỹ năng phản biện, giáo viên sẽ khuyến khích học sinh sử dụng các kĩ năng lập luận. Học sinh sẽ học cách nghiên cứu bằng cách đưa ra các lí giải hợp lí cho câu trả lời. - Biện pháp tổ chức: Tổ chức tranh luận phản biện sẽ diễn ra theo các bước: + Bước 1: Tổ chức cho các em làm việc theo từng nhóm. Các nhóm này được tạo nên bởi những em có cùng quan điểm. Giáo viên tuyệt đối không lựa chọn mà để các em tự quyết định mình sẽ thuộc nhóm nào. (Ví dụ: Chia 4 nhóm với 4 tên nhóm – phương châm sau: Phát triển bản thân; Trải nghiệm giá trị; Kiếm thật nhiều tiền; Hạnh phúc. Học sinh tự do lựa chọn nhóm trên 4 phương châm trên. Mỗi nhóm mang trong đó một số yêu cầu, lựa chọn nhóm nào thì giải quyết những yêu cầu có trong hình nhóm đó) (4 nhóm trong bài giảng Chiếc thuyền ngoài xa)
- 16 + Bước 2: Tổ chức cho các em thảo luận, làm việc cùng nhau để tìm ra các ý phản biện và sắp xếp chúng theo một trật tự lôgic. Ở bước này các em không chỉ học tập kiến thức, ghi nhớ bài học mà còn học tập được phương pháp làm việc theo nhóm sao cho hiệu quả nhất. Tất nhiên, giáo viên sẽ phải quan sát tổng thể quá trình làm việc của từng em, nếu không sẽ xảy ra tình trạng chỉ có một vài học sinh khá trong nhóm làm việc, số còn lại thì “ngồi chơi xơi nước” và không phát triển được tư duy. + Bước 3: Các nhóm cử đại diện trình bày vấn đề mà mình đã chọn. Sau khi trình bày, các bạn trong nhóm khác có thể nêu câu hỏi yêu cầu được giải đáp. + Bước 4: Giáo viên và học sinh cùng chốt lại vấn đề trọng tâm và đánh giá. Việc tổ chức tranh luận này không nhất thiết là hình thức tranh luận theo nhóm. Có thể sử dụng cách tranh luận giữa các cá nhân học sinh với nhau, hoặc tranh luận giữa giáo viên và học sinh. Chẳng hạn trong quá trình học tập, lĩnh hội tri thức của bài học, ở một trường hợp nào đó, giáo viên khéo léo, cố ý nói sai vấn đề, hoặc dẫn một ý kiến nào đó chưa thỏa đáng để học sinh phát hiện ra và tranh luận. Nếu một lần học sinh chưa phát hiện ra thì có thể cố tình nhấn mạnh điểm sai thêm lần nữa. Nếu vài ba lần học sinh vẫn chưa phát hiện được thì giáo viên gợi khéo: hình như có vấn đề gì đó chưa ổn ở đây, các em có thấy thế không? Như thế sẽ lôi kéo học sinh phát hiện vấn đề. Khi học sinh phản biện đúng, có sức thuyết phục thì công nhận, bổ sung vào bài học, coi đó như là công lao, phát hiện mới mẻ, sáng tạo của học sinh. Trong quá trình tổ chức phản biện sẽ có nhiều tình huống nảy sinh, vì vậy trong quá trình thiết kế bài dạy, giáo viên nên có sự dự kiến tình huống và cách xử
- 17 lí, tránh để rơi vào tình trạng bị động. Giáo viên cũng cần phải có kiến thức vững vàng để lí giải những khúc mắc cho học sinh một cách thấu đáo. Nhất là phải có quan điểm rõ ràng: đồng tình hay phản đối, đúng hay sai...Sau mỗi lần phản biện nên chốt lại ý trọng tâm để học sinh ghi nhớ, khắc sâu kiến thức. Ví dụ 1: Thực hiện dạy học phản biện trong hoạt động hình thành kiến thức mới. Với việc dạy đọc hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, trong hoạt động hình thành kiến thức mới, giáo viên có thể tạo tình huống cho học sinh tranh luận, phản biện thông qua quá trình chia nhóm, đặt câu hỏi cho từng nội dung để hoàn thiện hệ thống phiếu học tập. Chẳng hạn như sau: Thiết kế và tổ chức tranh biện qua mẫu phiếu học tập với hệ thống câu hỏi, tình huống “có vấn đề” Nội dung 1: Phần giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm: PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
- 18 Nội dung 2: Khổ 1 - Bức tranh thiên nhiên và con người xứ Huế PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 YÊU CẦU: 1. Làm việc theo nhóm, đọc khổ thơ 1: - Tìm những chi tiết miêu tả cảnh thiên nhiên và miêu tả con người thôn Vĩ. - Liệt kê các biện pháp tu từ trong khổ 1. 2. Theo em, ai là người đặt ra câu hỏi: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Vì sao em nghĩ như vậy? 3. Cảm nhận của em về thiên nhiên và con người nơi thôn Vĩ?
- 19 Nội dung 3: Khổ 2 - Cảnh đêm trăng xứ Huế và niềm đau cô đơn, chia lìa PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3 YÊU CẦU: Thảo luận nhóm và hoàn thành phiếu học tập 1. Gió và mây có sự chuyển động như thế nào trong câu thơ “Gió theo lối gió, mây đường mây” ? Từ đó em cảm nhận như thế nào về cảnh vật? .. 4. Từ “ai” “kịp” và hàng loạt câu hỏi trong hai câu thơ cuối 2. Trong câu thơ thể hiện tâm trạng gì “Dòng nước buồn của tác giả? thiu hoa bắp lay” ................................... những từ “buồn ................................... thiu” và “lay” gợi ................................... KHỔ cho em liên tưởng ................................... gì? ................................... ................................... 2 ................................... .............................. 3. Theo em tác giả mong chờ điều gì ở con thuyền chở trăng? .................................. .................................. . .................................. ......... ..
- 20 Nội dung khổ 3 - Thế giới mộng ảo đầy tâm trạng PHIẾU HỌC TẬP SỐ 4 YÊU CẦU: 1. Làm việc cá nhân, đọc khổ thơ 3 và trả lời những câu hỏi ghi trên phiếu. 2. Các thành viên nêu quan điểm cá nhân, thành viên trong nhóm góp ý, hoàn thiện phiếu học tập. “Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra... Ở đây sương khói mờ nhân ảnh TRONG ĐẦU TÔI Ai biết tình ai có đậm đà?” Ở ĐÂY SUY NGHĨ & TÌM KIẾM TÁC GIẢ & TÔI 1. Khung cảnh khổ thơ 2. Em hãy chỉ ra những từ thứ 3 có gì khác so với ngữ, hình ảnh làm nên sự hai khổ thơ trước? khác biệt đó? .. ..... ......... 3. Biện pháp nghệ thuật 4. Phân tích ý nghĩa của biện 5. Hình ảnh “khách gì đã được sử dụng pháp nghệ thuật đó? đường xa” giúp các em trong câu thơ thứ nhất? liên tưởng tới ai? ......... ..... ........ .

