Ứng dụng phần mềm vào đánh giá mức độ nhận thức lý thuyết và sử dụng bài tập bổ trợ, nhạc diễu hành giúp nâng cao hiệu quả thực hiện động tác Đi đều, giậm chân trong bài Đội ngũ từng người không có súng cho học sinh lớp 10 trường THPT

pdf 35 trang Bảo Vy 10/01/2026 130
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Ứng dụng phần mềm vào đánh giá mức độ nhận thức lý thuyết và sử dụng bài tập bổ trợ, nhạc diễu hành giúp nâng cao hiệu quả thực hiện động tác Đi đều, giậm chân trong bài Đội ngũ từng người không có súng cho học sinh lớp 10 trường THPT", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfung_dung_phan_mem_vao_danh_gia_muc_do_nhan_thuc_ly_thuyet_va.pdf

Nội dung tài liệu: Ứng dụng phần mềm vào đánh giá mức độ nhận thức lý thuyết và sử dụng bài tập bổ trợ, nhạc diễu hành giúp nâng cao hiệu quả thực hiện động tác Đi đều, giậm chân trong bài Đội ngũ từng người không có súng cho học sinh lớp 10 trường THPT

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC GIANG TRƯỜNG THPT GIÁP HẢI TÊN SÁNG KIẾN Ứng dụng phần mềm vào đánh giá mức độ nhận thức lý thuyết và sử dụng bài tập bổ trợ, nhạc diễu hành giúp nâng cao hiệu quả thực hiện động tác “Đi đều, giậm chân” trong bài “Đội ngũ từng người không có súng” cho học sinh lớp 10 trường THPT. Năm học: 2024 - 2025 Môn: Giáo dục quốc phòng - An ninh Họ và tên: Hoàng Thị Hạnh Đơn vị công tác: Trường THPT Giáp Hải Bắc Giang, tháng 2 năm 2025
  2. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT XHCN Xã hội chủ nghĩa QPTD Quốc phòng toàn dân VTND Vũ trang nhân dân ANND An ninh nhân dân THPT Trung học phổ thông PPDH Phương pháp dạy học GDTC Giáo dục thể chất TSHS Tổng số học sinh ĐH-CĐ Đại học – Cao đẳng BGH Ban giám hiệu TD Thể dục GDQPAN Giáo dục quốc phòng an ninh HS Học sinh NXB Nhà xuất bản GD&ĐT Giáo dục và đào tạo GS, TS Giáo sư, tiến sĩ 1
  3. MỤC LỤC STT Nội dung Trang 1 Tên sáng kiến 3 2 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu 3 3 Các thông tin cần bảo mật 3 4 Mô tả giải pháp cũ thường làm 3 5 Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến 3 6 Mục đích của giải pháp sáng kiến 5 7 Nội dung 6 8 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 6 9 7.2. Các giải pháp mới hoặc cải tiến 7 10 7.2.1. Giải pháp 1: Ứng dụng phần mềm vào bài kiểm tra đánh giá 8 mức độ nhận thức lý thuyết với hình thức trắc nghiệm để đánh giá năng lực nhận thức của học sinh đối với động tác “Đi đều, giậm chân” 11 7.2.2. Giải pháp 2: Sử dụng các bài tập bổ trợ cho động tác “Giậm 14 chân”, “Đi đều”. 12 7.2.3. Giải pháp 3: Sử dụng nhạc diễu hành cho động tác “Giậm 18 chân” 13 7.3. Thực nghiệm sư phạm 20 14 7.3.1. Mô tả cách thực nghiệm 20 15 7.3.2. Kết quả đạt được 21 16 7.4. Thuyết minh về phạm vi áp dụng của sáng kiến 24 17 7.5. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến 25 18 7.5.1. Về lợi ích kinh tế 25 19 7.5.2. Về lợi ích xã hội 25 2
  4. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến. Ứng dụng phần mềm vào đánh giá mức độ nhận thức lý thuyết và sử dụng bài tập bổ trợ, nhạc diễu hành giúp nâng cao hiệu quả thực hiện động tác “Đi đều, giậm chân” trong bài “Đội ngũ từng người không có súng” cho học sinh lớp 10 trường THPT. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 10/2024. 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không. 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm. Có thể nói rằng, môn học giáo dục quốc phòng có một vai trò và ý nghĩa rất to lớn trong việc giáo dục và nâng cao ý thức, phẩm chất đạo đức của con người đặc biệt là học sinh - thế hệ trẻ chủ nhân tương lai của đất nước. Trong điều kiện đất nước hội nhập và phát triển, việc nâng cao ý thức trách nhiệm và hiểu biết về kiến thức quốc phòng an ninh là một nhiệm vụ thiết thực hơn bao giờ hết. Việc giảng dạy cho học sinh những kiến thức về quốc phòng an ninh là một việc làm đúng đắn và rất có ý nghĩa. Nó sẽ giúp cho khối đại đoàn kết toàn dân và sức mạnh dân tộc không ngừng được củng cố và lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mặc dù có vai trò và vị trí quan trọng như vậy nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau cho nên chất lượng Dạy - Học môn giáo dục quốc phòng an ninh trong nhà trường THPT thời gian qua còn chưa được tốt Đa phần giáo viên chủ yếu sử dụng các biện pháp truyền thống, chỉ biết chú trọng đầu tư trong việc biên soạn giáo án, thục luyện giáo án theo đúng nội dung kiến thức bài học, tiết học mà chưa có biện pháp để nâng cao hiệu quả mỗi giờ học, dẫn đến học sinh cảm thấy áp lực, nhàm chán, ngại học, tiếp thu bài theo hướng thụ động, không phát huy được tính tự giác, tích cực của học sinh. Nhiều học sinh thờ ơ với môn học, các em học cũng chỉ mang tính chất “đối phó, chống đối”. Vì vậy việc hướng cho các em học sinh yêu thích môn học giáo dục quốc phòng an ninh đòi hỏi người giáo viên phải luôn biết cách đổi mới phương pháp dạy học, đưa ra các giải pháp dạy học linh hoạt và sáng tạo vào bài học để tạo tâm lý thoải mái, hứng thú, giúp các em yêu thích môn học, tiếp thu bài học một cách tốt nhất đáp ứng được mục tiêu bài học. Tuy nhiên các đề tài trước đây thường sử dụng các biện pháp như : sử dụng một số trò chơi lồng ghép nội dung nguyên bản trong sách giáo khoa để truyền tải bài học cho học sinh hoặc sử dụng tranh ảnh, video Vì thế trong tiết học giáo dục quốc phòng hầu như các em chỉ học để biết chứ chưa tạo cho các em sự đam mê, thích thú với môn học, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng môn học nói riêng và làm giảm chất lượng giáo dục nói chung. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến. Trải qua hơn 60 năm (1961 đến nay) hình thành và phát triển môn học Giáo dục quốc phòng - An ninh đã khẳng định vị thế của mình với sự nỗ lực của không chỉ riêng ngành Giáo dục mà còn nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành qua từng giai đoạn. Giáo dục quốc phòng - An ninh là một bộ phận của 3
  5. nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác quốc phòng của Đảng, qua đó nhằm bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cần thiết, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn của dân tộc cho học sinh đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc gia góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, tạo cho thế hệ trẻ có điều kiện tu dưỡng phẩm chất, rèn luyện năng lực để sẵn sàng thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược của đất nước: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về Quốc phòng - An ninh và những kỹ năng quân sự cần thiết, để học sinh nhận thức đầy đủ hơn quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện Chỉ thị 12-CT/TW ngày 03/5/2007 của Bộ Chính trị về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Giáo dục quốc phòng - An ninh trong tình hình mới; Chỉ thị số 417/CT-TTg ngày 31/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ vế việc tăng cường chỉ đạo, thực hiện công tác Giáo dục quốc phòng - An ninh năm 2010 và những năm tiếp theo; Nghị định 116/2007-NĐ-CP ngày 10/7/2007 về Giáo dục quốc phòng - An ninh cùng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác làm cơ sở pháp lý để thực hiện nhiệm vụ Giáo dục quốc phòng - An ninh trong các trường THPT. Từng bước tác động sâu sắc đến cả các cơ quan quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ Giáo dục quốc phòng - An ninh, làm thay đổi tư duy của các cấp, các ngành cũng như toàn xã hội đối với môn học, góp phần khẳng định được vị thế của môn học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Xác định rõ vị trí, vai trò của nhiệm vụ đó, trong những năm qua Cấp Uỷ - Ban Giám hiệu Trường THPT Giáp Hải luôn quan tâm chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện tốt công tác Giáo dục quốc phòng - An ninh cho học sinh. Đặc biệt chỉ đạo, xây dựng kế hoạch hướng dẫn giáo viên chọn các hình thức tổ chức Dạy - Học tích cực; các giáo viên cũng đã được tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học, từ đó đã mạnh dạn thay đổi cách soạn giáo án, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với trình độ nhận thức lứa tuổi cũng như nội dung và kiến thức môn học. Việc đổi mới phương pháp Dạy - Học là một vấn đề đang được toàn xã hội nói chung và đặc biệt là ngành giáo dục nói riêng rất quan tâm, nhằm tạo sự chuyển biến lớn trong quá trình Dạy - Học, điều đó càng đòi hỏi người giáo viên phải tích cực tìm tòi, học hỏi và không ngừng sáng tạo để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra. Chương trình Giáo dục quốc phòng an ninh cấp Trung học phổ thông là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân, được Đảng và nhà nước hết sức quan tâm chỉ đạo, cụ thể thông tư số 46/2020/TT - BGDĐT ngày 24/11/2020 của Bộ giáo dục và đào tạo đã xác định: “Môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh là môn học chính khóa, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết ban đầu về nền quốc phòng toàn dân, ANND; về truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, lực lượng VTND và nghệ thuật quân sự Việt Nam; có kiến thức cơ bản, cần thiết về phòng thủ dân sự và kĩ năng quân sự; thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc”, thông tư 02/BGDĐT ban hành chương trình tổng thể giáo dục quốc phòng an ninh cấp THPT đến trung cấp, cao đẳng đại học, nhằm giáo dục thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh nói riêng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, tư duy và kiến thức quân sự, chuẩn bị cho nhân lực và đào tạo nhân tài cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. 4
  6. Với tầm quan trọng như vậy, Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Giang luôn quan tâm, chỉ đạo, tổ chức và triển khai thực hiện tốt công tác Giáo dục quốc phòng - An ninh cho học sinh. Bằng rất nhiều hoạt động cụ thể trong công tác giảng dạy cũng như hội thao Giáo dục quốc phòng - An ninh cấp trường, cấp tỉnh, cấp quốc gia. Thời gian vừa qua dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Ban giám hiệu trường THPT Giáp Hải và tổ Thể dục - GDQPAN đã xây dựng các kế hoạch, hướng dẫn giáo viên giáo dục quốc phòng an ninh chọn nhiều hình thức giảng dạy, học tập môn học này. Là giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy bộ môn Giáo dục quốc phòng - An ninh, tôi nhận thấy học sinh phải chuyển tải nhiều kiến thức, đồng thời học thực hành phải hợp lý và khoa học. Vì vậy các em luôn cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi và không tập trung trong giờ học. Mặt khác môn Giáo dục quốc phòng - An ninh là môn học mà khi bước vào trường trung học phổ thông các em mới bắt đầu tìm hiểu nhất là học sinh lớp 10 còn rất bỡ ngỡ khi nhắc tới bộ môn này. Các em thường rụt rè, e ngại khi hô khẩu lệnh, các động tác còn chưa chuẩn xác. Chính vì vậy khi giảng dạy giáo viên cần đưa ra các biện pháp phù hợp để nâng cao kết quả học tập. Đặc biệt đối với bài “Đội ngũ từng người không có súng”, đây là nội dung thực hành đầu tiên của lớp 10, sẽ hình thành các động tác cơ bản cho học sinh và tạo tiền đề thực hiện các nội dung tiếp theo. Xuất phát từ các lí do trên, tôi đã mạnh dạn trình bày sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng phần mềm vào đánh giá mức độ nhận thức lý thuyết và sử dụng bài tập bổ trợ, nhạc diễu hành giúp nâng cao hiệu quả thực hiện động tác “Đi đều, giậm chân” trong bài “Đội ngũ từng người không có súng” cho học sinh lớp 10 trường THPT. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến. Giải pháp nhằm góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định trong Chương trình tổng thể ban hành kèm theo Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thông qua các năng lực đặc thù môn học là năng lực nhận thức, năng lực vận dụng. Đồng thời tạo không khí vui tươi, vừa học tập vừa thi đua, học sinh vui vẻ, thoải mái nhưng vẫn tiếp thu được bài học. Qua đó giáo dục ý thức yêu thích tập luyện, khắc phục được tâm lý ngại vận động trong quá trình học tập môn Giáo dục quốc phòng - An ninh của học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tránh áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập chung bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học để học sinh có thể tìm hiểu, mở rộng vốn tri thức, tiếp tục phát triển các phẩm chất, năng lực cần thiết sau tốt nghiệp trung học phổ thông; chú trọng rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức quốc phòng và an ninh để phát hiện và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn. Vận dụng các phương pháp giáo dục một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể; khắc phục những hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống, truyền thụ kiến thức một chiều, khiến học sinh tiếp thu một cách thụ động, học sinh cảm thấy mệt mỏi nhàm chán, không hứng thú. Qua việc ứng dụng phần mềm vào đánh giá mức độ nhận thức lý thuyết và sử dụng bài tập bổ trợ, nhạc diễu hành vào tập luyện, giúp học sinh nắm chắc được kiến thức, trong quá trình tập luyện khắc phục, hạn chế được lỗi sai để nâng cao chất lượng tiết dạy và kết quả môn học. Sáng kiến cũng rút ra được những yêu cầu sư phạm, những kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình giảng dạy, phát huy được vai trò của đổi mới phương pháp dạy học đối với môn Giáo dục quốc phòng - An ninh nói riêng 5
  7. và các môn học khác nói chung cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng nghiên cứu khoa học của bản thân, đánh giá được thực trạng học tập môn Giáo dục quốc phòng - An ninh của học sinh trường Trung học phổ thông Giáp Hải khi thực hiện theo chương trình 2018. Trong sáng kiến này, tôi trình bày giải pháp ứng dụng phần mềm vào đánh giá mức độ nhận thức lý thuyết và sử dụng bài tập bổ trợ, nhạc diễu hành giúp nâng cao hiệu quả thực hiện động tác “Đi đều, giậm chân” trong bài “ Đội ngũ từng người không có súng” cho học sinh lớp 10 trường THPT, đánh giá căn cứ theo Mục 4 và Mục 6 Chương trình ban hành kèm theo Thông tư 46/2020/TT- BGDĐT có nêu rõ yêu cầu cần đạt, định hướng chung của phương pháp giáo dục đối với môn Giáo dục quốc phòng - An ninh cấp THPT, có sự vận dụng linh hoạt vào thực tiễn phù hợp với đối tượng học sinh trường THPT Giáp Hải, Thành phố Bắc Giang. Trên cơ sở áp dụng có hiệu quả tại trường của mình, tôi đã chia sẻ các giải pháp của mình cho một số giáo viên cùng chuyên môn ở các trường THPT khác trong toàn tỉnh. Qua đó, cùng góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn Giáo dục quốc phòng - An ninh theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông mới. 7. Nội dung. 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến. a. Thực trạng. * Ưu điểm: Trường trung học phổ thông Giáp Hải là một trường dù mới thành lập từ năm 2011, tuy bề dày lịch sử chưa nhiều về kết quả đào tạo học sinh. Nhưng nhà trường có một đội ngũ tập thể sư phạm đều đạt chuẩn và trên chuẩn về kiến thức, có chuyên môn vững, nhiệt tình tận tụy với công tác quản lý và giảng dạy. Đối với môn Giáo dục quốc phòng - An ninh. Ban giám hiệu nhà trường cùng các thầy cô giáo luôn quan tâm tạo mọi điều kiện giúp đỡ động viên để học sinh tham gia tập luyện tích cực đạt hiệu quả. Hàng năm được tham gia các lớp tập huấn do Sở GD&ĐT Bắc Giang tổ chức để nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp nhận được chương trình giảng dạy tiên tiến, phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới. Đội ngũ giáo viên Giáo dục quốc phòng và an ninh đều được đào tạo chính quy vững về chuyên môn, nhiệt tình, trách nhiệm, tâm huyết với môn học. Điều kiện sân bãi, phòng học, trang thiết bị, dụng cụ Giáo dục quốc phòng - An ninh đã được trang bị khá đầy đủ theo danh mục thiết bị cho giảng dạy, học tập. Nề nếp kỷ cương của nhà trường đối với học sinh chặt chẽ qua từng cấp, từng khâu nên hầu hết các em học sinh có ý thức tốt, hứng thú nhiệt tình trong học tập, luyện tập môn Giáo dục quốc phòng - An ninh. Hàng năm được sự chỉ đạo của BGH, tổ chuyên môn TD - GDQPAN cũng đã tổ chức thành công hội thao Giáo dục quốc phòng - An ninh cấp trường. * Hạn chế: Việc tìm kiếm các tư liệu, đầu sách tham khảo phục vụ cho việc dạy học cũng như nghiên cứu khoa học cũng rất khó khăn, phải tìm tòi trên báo, mạng, trên các phương tiện thông tin đại chúng Chương trình Giáo dục quốc phòng - An ninh mới, nhiều nội dung thay đổi nên còn nhiều khó khăn trong công tác giảng dạy. 6
  8. Giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn các biện pháp giảng dạy do thiếu kinh nghiệm. Chủ yếu sử dụng các biện pháp truyền thống, chỉ biết chú trọng đầu tư trong việc biên soạn giáo án, thục luyện giáo án theo đúng nội dung kiến thức bài học, tiết học mà chưa có biện pháp nhằm khích lệ được tinh thần phấn chấn và hứng thú của học sinh ở mỗi giờ học thực hành; dẫn đến học sinh cảm thấy áp lực, nhàm chán, ngại học, tiếp thu bài theo hướng thụ động, không phát huy được tính tự giác, tích cực, chịu khó tập luyện. Biên chế số lượng giáo viên giảng dạy môn Giáo dục quốc phòng - An ninh chưa đủ, trường có tổng số 30 lớp nhưng chỉ có 01 giáo viên giảng dạy, thiếu 01 giáo viên nên đôi khi công tác chuyên môn còn gặp khó khăn. Do khách quan các em được sinh ra và lớn lên trong thời bình và do yêu cầu về lượng kiến thức của các môn học, giờ học, cộng thêm áp lực từ phía không ít phụ huynh và học sinh không muốn học, các em thường chú trọng môn thi THPT quốc gia, thi Đại học - Cao đẳng nên tác động ít nhiều đến suy nghĩ và xác định nhiệm vụ học tập đối với môn học này. Một bộ phận học sinh còn ngộ nhận và coi đây là môn học phụ dẫn đến ý thức học tập môn Giáo dục quốc phòng - An ninh chưa cao, ảnh hưởng đến chất lượng môn học. Đối tượng giảng dạy nội dung điều lệnh là học sinh lớp 10, bước đầu làm quen và học tập môn Giáo dục quốc phòng - An ninh nên gặp nhiều bỡ ngỡ và khó khăn. Tình trạng học sinh chưa trang bị đầy đủ sách giáo khoa và trang phục riêng đối với môn học chưa có cũng làm cho việc giảng dạy theo phương pháp mới còn bị hạn chế nhất định. Động tác “Giậm chân” và động tác “Đi đều” là động tác khó, học sinh thường mắc nhiều sai lầm như đánh tay không đúng độ cao, khoảng cách giữa cánh tay với thân người chưa đung, bước chân chưa đúng cự ly Mặt khác nội dung của bài nhiều, thời gian chỉ trong 4 tiết nên rất khó khăn. b. Tính cấp thiết. Với những hạn chế ở trên, việc thực hiện động tác “Giậm chân”, “Đi đều” chưa đạt được hiệu quả cao do giáo viên chưa sử dụng các công cụ, thiết bị, đồ dùng bổ trợ cho bài dạy nhiều. Chủ yếu là dùng ngôn ngữ để thuyết trình, chỉnh sửa. Do giáo viên chưa áp dụng các biện pháp dạy học phù hợp để phát huy hết tính độc lập, sáng tạo, tự giác, tích cực của học sinh trong tập luyện. Việc sửa sai của giáo viên cho học sinh chưa kịp thời hoặc chưa tìm ra được biện pháp hiệu quả nhất. Học sinh chưa có phương pháp tối ưu trong luyện tập và sửa sai động tác, ý thức tự tập luyện chưa tốt, chưa thật sự chịu khó, chịu khổ trong tập luyện, thời gian tự tập luyện ở nhà chưa nhiều. Học sinh đa số thực hiện sai những cử động cơ bản của động tác giậm chân, động tác đi đều. Do đó, việc ứng dụng phần mềm vào các bài kiểm tra đánh giá và sử dụng các bài tập bổ trợ, nhạc diễu hành nhằm hỗ trợ việc tập luyện động tác “Giậm chân, đi đều” là hết sức cần thiết. Vì vậy tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và đưa ra giải pháp: Ứng dụng phần mềm vào đánh giá mức độ nhận thức lý thuyết và sử dụng bài tập bổ trợ, nhạc diễu hành giúp nâng cao hiệu quả thực hiện động tác “Đi đều, giậm chân” trong bài “Đội ngũ từng người không có súng” cho học sinh lớp 10 trường THPT. 7.2. Các giải pháp mới hoặc cải tiến. 7
  9. Trong từng tiết học, tùy thuộc vào nội dung của tiết học, đặc điểm, trình độ của từng lớp và từng nhóm học sinh, căn cứ vào thực tiễn việc dạy và học của nhà trường, tôi sử dụng các giải pháp khác nhau, các nhóm bài tập khác nhau cho từng lớp, từng nhóm đối tượng một cách phù hợp và khoa học nhất. 7.2.1. Giải pháp 1: Ứng dụng phần mềm vào bài kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức lý thuyết với hình thức trắc nghiệm để đánh giá năng lực nhận thức của học sinh đối với động tác “Đi đều, giậm chân”. - Mục đích, yêu cầu : + Củng cố, đánh giá mức độ nhận thức kiến thức lý thuyết của học sinh về động tác “Giậm chân, đi đều”. + Giảm quỹ thời gian học tập ở trên lớp học thực hành. + Học sinh dựa vào những kiến thức đã học đọc đề và tích vào đáp án đúng nhất. - Nội dung: Sau khi giảng dạy nội dung lý thuyết cho học sinh, giáo viên xây dựng bài kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức của học sinh. Trên bài kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức có các câu hỏi, hình ảnh về động tác “Giậm chân, đi đều”. Từ đó giúp các em học sinh nắm vững được lý thuyết, biết vận dụng vào tập luyện. - Các bước tiến hành biện pháp : + Giáo viên xây dựng bài đánh giá nhận thức. + Tải bài kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức lên phần mềm (cụ thể trường THPT Giáp Hải đã ứng dụng phần mềm Azota ). + Chia sẻ đường link cho học sinh. + Trích xuất kết quả điểm trên phần mềm để kiểm tra mức độ nắm bắt lý thuyết của học sinh trên phần mềm. *Mẫu bài kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức: Câu 1: Động tác “Giậm chân” thực hiện mấy cứ động ? A.2 cử động B. 3 cử động C. 4 cử động D. 5 cử động Câu 2: Động tác giậm chân, bàn chân nhấc lên, mũi bàn chân cách mặt đất bao nhiêu cm? A. 20 cm B. 30cm C. 40 cm D. 50cm Câu 3: Động tác đứng lại thực hiện mấy cử động ? A.2 cử động B. 3 cử động C. 4 cử động D. 5 cử động Câu 4: Khẩu lệnh “Đứng lại - Đứng”: A. Có dự lệnh và động lệnh B. Chỉ có dự lệnh, không có động lệnh. C. Chỉ có động lệnh, không có dự lệnh. D. Không có cả dự lệnh và động lệnh. Câu 5: Khi thực hiện động tác đi đều thì tay đánh ra sau hợp với thân người một góc bao nhiêu độ ? A.40 độ B. 45 độ C. 50 độ D. 55 độ Câu 6: Nội dung nào dưới đây không phản ánh đúng những điểm cần chú ý khi thực hiện động tác đi đều? A. Đánh tay ra phía trước giữ đúng độ cao. B. Cánh tay đánh ra phía sau thẳng tự nhiên. C. Giữ đúng độ dài mỗi bước đi và tốc độ đi. D. Nghiêng người, liếc mắt quan sát xung quanh 8
  10. Câu 7: Khi thực hiện động tác đi đều đối với học sinh thì chân nọ cách chân kia bao nhiêu cm ? A.60 cm B. 65 cm C. 70 cm D. 75 cm Câu 8: Nhịp một tay phải đánh ra trước, khuỷu tay gập và nâng lên tạo với thân người một góc.......... độ ? A.50 độ B. 60 độ C. 70 độ D. 45 độ Câu 9: Nhịp một của động tác “Giậm chân” rơi vào chân nào ? A.Nhịp một chân trái nhịp hai chân phải B.Nhịp một chân phải nhịp hai chân trái C.Nhịp một rơi vào cả hai chân D.Nhịp một không rơi vào chân trái Câu 10: Tần số bước chân khi thực hiện động tác đi đều với học sinh là bao nhiêu bước/ phút ? A.100 bước/ phút B.106 bước/ phút C.120 bước/ phút D.110 bước/ phút Câu 11: Các chiến sĩ trong bức hình dưới đây đang thực hiện động tác nào? A.Quay trái. B. Quay phải. C. Đi đều. D. Thôi chào. Câu 12: Nhận định nào dưới đây đúng về khẩu lệnh “Giậm chân – Giậm”? A. Chỉ có dự lệnh, không có động lệnh. B. Chỉ có động lệnh, không có dự lệnh. C. “Giậm chân” là dự lệnh, “Giậm” là động lệnh. D. “Giậm chân” là động lệnh, “Giậm” là dự lệnh. Câu 13: Nghe dứt động lệnh “Đứng” trong động tác “Đứng lại – Đứng” cử động một bàn chân trái đặt chếch bao nhiêu độ ? A.22,5 độ B. 23,5 độ C.24,5 độ D. 25,5 độ 9
  11. Câu 14 : Dự và động lệnh của động tác: “Đứng lại – Đứng” rơi vào chân nào ? A.Chân phải B.Chân trái C.Cả hai chân D. Không có động lệnh “Đứng ” Câu 15: Thực hiện khi di chuyển đội hình, di chuyển vị trí có trật tự, biểu hiện sự thống nhất hùng mạnh và trang nghiêm đó là ý nghĩa của động tác nào ? A. Động tác nghiêm. B. Động tác nghỉ. C. Động tác giậm chân. D. Động tác đi đều Câu 16: Động tác nào dưới đây thực hiện 2 cử động ? A.Chào B. Nghiêm C. Nghỉ D. Đi đều Câu 17: Khi thực hiện động tác “ Đi đều” tay đánh ra trước, nắm tay úp xuống, khớp xương thứ mấy của ngón tay nào cao ngang mép dưới và thẳng khuy áo ngực ? A.Khớp xương thứ hai của ngón trỏ B.Khớp xương thứ ba của ngón trỏ C.Khớp xương thứ hai của ngón giữa D.Khớp xương thứ ba của ngón giữa Câu 18: Ý nghĩa của động tác “Giậm chân” là gì? A. Di chuyển vị trí đội hình có trật tự, biểu hiện sự thống nhất, hùng mạnh. B. Để điều chỉnh đội hình trong khi đi được nhanh chóng và trật tự. C. Đổi hướng chính xác, giữ vững vị trí đứng và duy trì trật tự đội hình. D. Thống nhất nhịp đi chung của phân đội theo tiếng hô của chỉ huy. Câu 19: Hình ảnh nào dưới đây là động tác “Giậm chân” ? Hình 1 Hình 2 Hình 3 Hình 4 A.Hình 1 B.Hình 2 C.Hình 3 D.Hình 4 Câu 20: Nội dung nào sau đây là điểm chú ý khi đi đều? A. Khi đánh tay ra phía trước phải giữ thăng bằng. B. Cánh tay đánh ra phía sau thẳng tự nhiên. C. Chân phải, chân trái bước nhịp nhàng. D. Nhìn xung quanh, quan sát 10
  12. * Kết quả làm bài kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức của lớp 10A2 khi áp dụng giải pháp này: Bảng điểm STT Họ và tên Lớp Ngày sinh Điểm 1 Hoàng Minh Quang Anh 10A2 10/08/2009 8 2 Nguyễn Thị Anh 10A2 29/11/2009 10 3 Đỗ Ngọc Ánh 10A2 26/07/2009 10 4 Hoàng Hữu Bằng 10A2 16/06/2009 9 5 Nguyễn Ngọc Mai Châm 10A2 15/08/2009 9.5 6 Lương Đoàn Nhật Chi 10A2 04/11/2009 9 7 Ngô Thị Phương Chi 10A2 14/10/2009 9 8 Trần Đức Duẩn 10A2 05/08/2009 9 9 Nguyễn Mạnh Dũng 10A2 14/01/2009 5.5 10 Nguyễn Hùng Anh Duy 10A2 14/07/2009 9.5 11 Đỗ Thị Mỹ Duyên 10A2 09/12/2009 9.5 12 Đặng Thái Dương 10A2 05/08/2009 9.5 13 Lý Đức Dương 10A2 07/10/2009 8 14 Nguyễn Hoàng Dương 10A2 26/06/2009 8.5 15 Nguyễn Minh Đức 10A2 20/03/2009 8.5 16 Hoàng Hương Giang 10A2 04/07/2009 9.5 17 Nguyễn Hồng Hạnh 10A2 07/10/2009 9.5 18 Giáp Thanh Hiền 10A2 11/08/2009 9 19 Bế Nguyễn Trần Hiếu 10A2 25/10/2009 9 20 Dương Thế Hiếu 10A2 01/09/2009 9.5 21 Phạm Trung Hiếu 10A2 11/01/2009 10 22 Đỗ Xuân Huy Hoàng 10A2 19/09/2009 9 23 Trương Thị Thanh Huyền 10A2 19/11/2009 9.5 24 Hà Lê Minh Hưng 10A2 18/07/2009 9 25 Dương Thúy Hường 10A2 23/04/2009 9.5 26 Dương Minh Khôi 10A2 10/12/2009 8 27 Thân Văn Lâm 10A2 26/02/2009 9.5 28 Hà Thị Linh 10A2 11/06/2009 8.5 29 Nguyễn Yến Linh 10A2 12/01/2009 9.5 30 Hoàng Mạnh Long 10A2 12/06/2008 9.5 31 Nguyễn Bảo Minh 10A2 09/07/2009 7 32 Dương Bảo Nam 10A2 15/08/2009 9 33 Nguyễn Bảo Ngọc 10A2 09/12/2009 9 34 Thân Như Ngọc 10A2 19/11/2009 9.5 35 Nguyễn Mạnh Quân 10A2 30/03/2009 9.5 36 Dương Thị Thu Quỳnh 10A2 18/07/2009 9.5 37 Ngô Thị Thảo 10A2 30/04/2009 9.5 38 Trịnh Đức Thắng 10A2 16/10/2009 10 39 Đỗ Thị Hoài Thu 10A2 27/04/2009 6.5 40 Hà Thị Thanh Thúy 10A2 24/09/2009 5 11
  13. 41 Trịnh Minh Tiến 10A2 28/02/2009 9 42 Hoàng Quốc Toản 10A2 17/03/2009 8.5 43 Dương Huyền Trang 10A2 07/07/2009 5 44 Nguyễn Huyền Trang 10A2 02/08/2009 8.5 45 Nguyễn Đức Trí 10A2 14/09/2009 8.5 46 Nguyễn Minh Triết 10A2 22/12/2009 9.5 47 Nguyễn Thị Thu Uyên 10A2 01/04/2009 9 48 Nguyễn Tuấn Vũ 10A2 27/11/2009 10 Bảng tần số Số học < 1-5 < 6 < 7 < 8 < 9 <= 10 Lớp sinh ĐK DT SL % SL % SL % SL % SL % SL % 10A2 48 48 0 0 3 6 1 2 1 2 9 19 34 71 Tổng 48 48 0 0 3 6.25 1 2.08 1 2.08 9 18.75 34 70.83 Bảng thống kê tỉ lệ đúng sai theo câu hỏi STT Câu hỏi Tổng Số Số Tỷ lệ Danh sách thí sinh Danh số HS HS HS làm sai sách thí HS làm làm không sinh dự đúng sai hoàn chưa làm thi thành/ câu 1 Câu 48 20 28 58.33% Hoàng Minh Quang 330528575 Anh, Hoàng Hữu Bằng, Nguyễn Ngọc Mai Châm, Lương Đoàn Nhật Chi, Ngô Thị Phương Chi, Trần Đức Duẩn, Nguyễn Mạnh Dũng, Đỗ Thị Mỹ Duyên, Đặng Thái Dương, Nguyễn Hoàng Dương, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Hồng Hạnh, Giáp Thanh Hiền, Dương Thế Hiếu, Đỗ Xuân Huy Hoàng, Hà Lê Minh Hưng, Dương Thúy Hường, Thân Văn Lâm, Hà Thị Linh, Nguyễn Yến Linh, Dương Bảo Nam, Thân Như Ngọc, Nguyễn Mạnh Quân, Ngô Thị Thảo, Đỗ Thị Hoài Thu, Hoàng Quốc Toản, Dương Huyền Trang, Nguyễn Minh Triết 2 Câu 48 39 9 18.75% Hoàng Minh Quang 12
  14. 330528576 Anh, Lương Đoàn Nhật Chi, Nguyễn Hoàng Dương, Nguyễn Minh Đức, Bế Nguyễn Trần Hiếu, Nguyễn Bảo Minh, Đỗ Thị Hoài Thu, Hà Thị Thanh Thúy, Dương Huyền Trang 3 Câu 48 43 5 10.42% Hà Thị Thanh Thúy, 330528577 Trịnh Minh Tiến, Dương Huyền Trang, Nguyễn Huyền Trang, Nguyễn Thị Thu Uyên 4 Câu 48 45 3 6.25% Đỗ Thị Hoài Thu, Hà 330528578 Thị Thanh Thúy, Dương Huyền Trang 5 Câu 48 45 3 6.25% Nguyễn Hùng Anh 330528579 Duy, Nguyễn Bảo Ngọc, Nguyễn Đức Trí 6 Câu 48 45 3 6.25% Hoàng Minh Quang 330528580 Anh, Giáp Thanh Hiền, Dương Minh Khôi 7 Câu 48 43 5 10.42% Nguyễn Mạnh Dũng, 330528581 Nguyễn Bảo Minh, Dương Thị Thu Quỳnh, Đỗ Thị Hoài Thu, Dương Huyền Trang 8 Câu 48 42 6 12.50% Lý Đức Dương, Hà Lê 330528582 Minh Hưng, Nguyễn Bảo Ngọc, Hà Thị Thanh Thúy, Dương Huyền Trang, Nguyễn Đức Trí 9 Câu 48 44 4 8.33% Nguyễn Mạnh Dũng, 330528583 Lý Đức Dương, Đỗ Thị Hoài Thu, Nguyễn Thị Thu Uyên 10 Câu 48 45 3 6.25% Nguyễn Mạnh Dũng, 330528584 Đỗ Thị Hoài Thu, Hà Thị Thanh Thúy 11 Câu 48 48 0 0.00% 330528585 12 Câu 48 46 2 4.17% Hà Thị Linh, Nguyễn 330528586 Bảo Minh 13 Câu 48 46 2 4.17% Hà Thị Thanh Thúy, 330528587 Dương Huyền Trang 14 Câu 48 40 8 16.67% Hoàng Minh Quang 330528588 Anh, Nguyễn Mạnh Dũng, Dương Minh Khôi, Nguyễn Bảo Minh, Hà Thị Thanh 13
  15. Thúy, Hoàng Quốc Toản, Dương Huyền Trang, Nguyễn Huyền Trang 15 Câu 48 45 3 6.25% Hoàng Hương Giang, 330528589 Hà Thị Thanh Thúy, Nguyễn Đức Trí 16 Câu 48 38 10 20.83% Hoàng Hữu Bằng, Ngô 330528590 Thị Phương Chi, Trần Đức Duẩn, Nguyễn Mạnh Dũng, Bế Nguyễn Trần Hiếu, Đỗ Xuân Huy Hoàng, Hà Thị Linh, Hoàng Mạnh Long, Dương Bảo Nam, Đỗ Thị Hoài Thu 17 Câu 48 42 6 12.50% Nguyễn Mạnh Dũng, 330528591 Lý Đức Dương, Nguyễn Hoàng Dương, Nguyễn Minh Đức, Dương Minh Khôi, Nguyễn Bảo Minh 18 Câu 48 40 7 16.67% Nguyễn Mạnh Dũng, Hoàng 330528592 Lý Đức Dương, Dương Quốc Toản Minh Khôi, Hà Thị Thanh Thúy, Trịnh Minh Tiến, Dương Huyền Trang, Nguyễn Huyền Trang 19 Câu 48 48 0 0.00% 330528593 20 Câu 48 43 5 10.42% Nguyễn Mạnh Dũng, 330528594 Trương Thị Thanh Huyền, Nguyễn Bảo Minh, Hà Thị Thanh Thúy, Dương Huyền Trang 7.2.2. Giải pháp 2: Sử dụng các bài tập bổ trợ cho động tác “Giậm chân”, “Đi đều”. a. Bài tập 1: Tập ke tay có căng dây. - Mục đích: Hỗ trợ, nâng cao động tác đánh tay cho học sinh trong động tác “Giậm chân” và “Đi đều”. - Yêu cầu: Tay đánh ra trước đảm bảo đúng độ cao và có điểm dừng, tay đánh ra sau dọc theo thân người. - Cách thực hiện: Chuẩn bị mỗi nhóm tập 2 cột và dây, đặt hai cột cách xa nhau một khoảng nhất định, buộc dây vào 2 cột lối với nhau, dây lối cao ngang khuy lắp túi áo ngực của học sinh nhóm tập. Mỗi nhóm tập từ 5-7 học sinh. Một học sinh hô khẩu lệnh cho cả nhóm cùng tập, “một”, “hai” để thực hiện động tác đánh tay theo nội dung điều lệnh, “một” tay phải đánh ra phía trước, tay trái đánh về phía sau, “hai” tay trái đánh ra tước, tay phải đánh về sau theo quy định của 14
  16. điều lệnh, không thực hiện động tác chân. Khi tay đánh ra trước đảm bảo đốt xương thứ 3 của ngón tay trỏ và cẳng tay chạm vào dây thì dừng lại, cẳng tay cách thân người 20 cm, tay đánh ra sau dọc theo thân người. Làm chậm sau đó nhanh dần theo nhịp hô. - Lưu ý: Khi thực hiện thân người phải ở tư thế ngay ngắn, tay đánh dứt khoát có điểm dừng, mắt nhìn thẳng phía trước. Giáo viên quan sát và uốn nắn, chỉnh sửa động tác cho học sinh. Hình ảnh minh họa tập động tác ke tay của học sinh b. Bài tập 2: Tập đánh tay theo tổ 03 học sinh. - Mục đích: Hỗ trợ động tác đánh tay cho học sinh trong động tác “Giậm chân” và “Đi đều”. - Yêu cầu: Tay đánh ra trước đảm bảo đúng độ cao và có điểm dừng, tay đánh ra sau cánh tay thẳng sát thân người, hợp với thân người một góc 45 độ có độ dừng . - Cách thực hiện: Chia học sinh ra thành các tổ 3 người, 1 người thực hiện 2 người còn lại hỗ trợ. Người thực hiện làm động tác đánh tay, người hỗ trợ, một người đưa tay ra trước ngang khuy nắp túi áo ngực người tập và cách 20 cm để đỡ tay đánh ra trước của người tập, một người đứng phía sau dơ tay đỡ tay đánh về sau của người tập sao cho dọc theo thân người và cánh tay hợp với thân người một góc 450, lòng bàn tay quay vào trong. - Lưu ý: Quá trình thực hiện nhóm 3 người để hiệu quả cao, giáo viên cần hướng dẫn kỹ cách thực hiện và 3 người cần phối hợp nhịp nhàng. 15
  17. Hình ảnh học sinh tập động tác đánh tay theo tổ 3 người c. Bài tập 3: Tập bước chân với vạch kẻ sẵn trên sân. - Mục đích: Hỗ trợ động tác bước chân khi “Đi đều” đảm bảo đúng độ dài bước chân. - Yêu cầu: Khi thực hiện phải bước đúng độ dài bước chân theo vạch kẻ sẵn trên sân tập. - Cách thực hiện: Chia lớp ra làm các nhóm tập, trên sân tập kẻ sẵn vạch kẻ, mỗi vạch cách nhau 60 cm. Học sinh thực hiện bước chân theo vạch kẻ trên sân theo nhịp hô, 1 chân trái bước lên trước, 2 chân phải và kết hợp cả động tác tay (thực hiện làm chậm và bước đúng độ dài vạch kẻ đã kẻ sẵn trên sân sau làm nhanh dần). - Lưu ý: Quá trình thực hiện người tập phải bước đúng vạch kẻ đã kẻ sẵn trên sân và khi thực hiện người phải ngay ngắn, không nghiêng ngả, gật gù, liếc mắt hoặc nhìn xung quanh, không nói chuyện. 16
  18. Hình ảnh học sinh tập động tác bước chân không đánh tay với vạch kẻ sẵn trên sân. Hình ảnh học sinh tập động tác bước chân két hợp đánh tay với vạch kẻ sẵn trên sân 17
  19. d. Bài tập 4: Tập giậm chân có căng dây. - Mục đích: Rèn cho học sinh thực hiện động tác giậm chân đúng độ cao, hình thành động tác chân đúng khi làm động tác “Giậm chân”. - Yêu cầu: Toàn thân ngay ngắn, chân đưa ra trước mũi chân phải chạm dây nhưng không nâng dây. - Cách thực hiện: Chia lớp ra thành các nhóm (từ 5-7 học sinh), mỗi nhóm sẽ có 2 cột căng dây nối với nhau cách mặt đất 20 cm. Khi thực hiện học sinh xếp thành hàng ngang và thực hiện động tác giậm chân theo nhịp (nhịp 1 là chân trái đưa ra trước, nhịp 2 là chân phải) nâng gối ra trước, mũi chân trúc xuống, đầu mũi chân chạm vào dây và không kết hợp đánh tay, người ở tư thế đứng nghiêm. Cứ thực hiện như vậy, phối hợp nhịp nhàng hai chân theo nhịp hô, làm chậm động tác rồi nhanh dần. - Lưu ý: Quá trình thực hiện động tác mũi chân phải trúc xuống, người không nghiêng ngả sang hai bên. Hình ảnh học sinh tập động tác giậm chân có căng dây nhưng không đánh tay 7.2.3. Giải pháp 3: Sử dụng nhạc diễu hành cho động tác “Giậm chân”. Trong quá trình thực hiện các động tác “Giậm chân” người tập tự hô và làm động tác nhiều sẽ dẫn đến nhàm chán, mệt mỏi và không có hứng thú tập. Vì vậy việc đưa nhạc diễu hành vào tập luyện động tác “Giậm chân” sẽ giúp học sinh cảm thấy sôi động, hứng thu và tạo lên hiệu quả hơn. Tôi đưa nhạc diễu hành vào thực hiện ở 2 bài tập sau: a. Bài tập 1: Giậm chân với nhạc diễu hành không kết hợp đánh tay. - Mục đích: Tạo hứng thú cho học sinh khi học giậm chân, giúp học sinh thực hiện thành thạo động tác chân và thực hiện đúng nhịp khi làm động tác giậm chân trong các hội thao, diễu hành... - Yêu cầu: Người ngay ngắn, chân nâng đúng độ cao, đúng nhịp và biết cách thực hiện với nhạc diễu hành trong thực tế công tác huấn luyện và hội thao. 18
  20. - Cách thực hiện: Chia lớp ra thành các tổ để luyện tập, mỗi tổ chuẩn bị một loa nhỏ và có nhạc diễu hành. Tổ xếp thành 2-3 hàng dọc để tập, khi tập theo nhạc thì phách nặng rơi vào nhịp chân trái giậm xuống, phách nhẹ rơi vào nhịp chân phải giậm xuống. - Lưu ý: Trong quá trình giậm chân yêu cầu học sinh nâng chân đảm bảo đúng độ cao và học sinh nhẩm nhịp một và hai theo nhạc (một là chận trái giậm xuống, tương ứng với phách nặng của nhạc và hai là chân phải giậm xuống, tương ứng với phách nhẹ của nhạc). Hình ảnh học sinh tập động tác giậm chân sử dụng nhạc diễu hành không kết hợp đánh tay b. Bài tập 2: Giậm chân với nhạc diễu hành có kết hợp đánh tay. - Mục đích: Tạo hứng thú cho học sinh khi học giậm chân, giúp học sinh thực hiện thành thạo động tác giậm chân và thực hiện đúng nhịp khi làm động tác giậm chân trong các hội thao, diễu hành... - Yêu cầu: Người ngay ngắn, thực hiện chuẩn xác, thành thạo động tác giậm chân và biết cách thực hiện với nhạc diễu hành trong thực tế công tác huấn luyện và hội thao. - Cách thực hiện: Chia lớp ra thành các tổ để luyện tập, mỗi tổ chuẩn bị một loa nhỏ và có nhạc diễu hành. Tổ xếp thành 2-3 hàng dọc để tập, khi tập theo nhạc thì phách nặng rơi vào nhịp chân trái giậm xuống, tay phải đánh ra trước tay trái đánh về sau và phách nhẹ rơi vào nhịp chân phải giậm xuống, tay trái đánh ra trước tay phải đánh về sau. - Lưu ý: Trong quá trình giậm chân yêu cầu học sinh nâng chân đảm bảo đúng độ cao, tay đánh ra trước đúng độ cao và có điểm dừng, học sinh nhẩm nhịp một và hai theo nhạc (một là chân trái giậm xuống, tương ứng với phách nặng của nhạc và hai là chân phải giậm xuống, tương ứng với phách nhẹ của nhạc). 19