Đề cương ôn tập kiểm tra cuối học kì I Ngữ văn 10 - Năm học 2024-2025
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập kiểm tra cuối học kì I Ngữ văn 10 - Năm học 2024-2025", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_kiem_tra_cuoi_hoc_ki_i_ngu_van_10_nam_hoc_20.pdf
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập kiểm tra cuối học kì I Ngữ văn 10 - Năm học 2024-2025
- Tổ Ngữ văn ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I MÔN NGỮ VĂN – LỚP 10 Năm học: 2024 – 2025 A. KIẾN THỨC CƠ BẢN I. VĂN BẢN ĐỌC 1. Sức hấp dẫn của Truyện kể a. Thần thoại: * Nội dung: Thể hiện quan niệm về vũ trụ và khát vọng chinh phục thế giới tự nhiên của con người thời nguyên thủy. * Hình thức: - Chứa đựng các yếu tố nghệ thuật, tôn giáo, triết học, lịch sử... - Có cốt truyện đơn giản: có thể là cốt truyện đơn tuyến, tập trung vào một nhân vật hoặc là một tổ hợp nhiều cốt truyện đơn. - Nhân vật chính: là các vị thần/những con người có nguồn gốc thần linh...được miêu tả với hình dạng khổng lồ, hoặc với sức mạnh phi thường... - Câu chuyện trong thần thoại gắn liền với thời gian phiếm chỉ, mang tính ước lệ và không gian vũ trụ với nhiều cõi khác nhau. - Lối tư duy hồn nhiên, chất phác, ý tưởng bay bổng, lãng mạn. b. Truyện truyền kì: * Nội dung: - Kể về những câu chuyện kì lạ. - Phản ánh những vấn đề thiết yếu của con người, thời đại. * Hình thức: - Sử dụng nhiều yếu tố kì ảo. - Xây dựng các nhân vật có hành trạng khác thường. c. Truyện ngắn hiện đại ( văn học lãng mạn 1930- 1945) * Nội dung: - Xây dựng nhân vật trong mối quan hệ với cái đẹp. - Gửi gắm những suy nghĩ sâu kín về con người; thời đại. * Nghệ thuật: - NT xây dựng tình huống truyện; tạo dựng nhân vật; thủ pháp đối lập tương phản. - Ngôn ngữ tạo hình; giàu chất họa vừa cổ kính vừa hiện đại . 2. Vẻ đẹp của Thơ ca. a. Thơ Hai Cư * Nội dung: Thể hiện những rung cảm của con người trước thiên nhiên bằng những hình ảnh trong sáng, nhẹ nhàng nhưng cũng đậm tính tượng trưng. * Hình thức: - Bài thơ Hai-cư (Haiku) trong tiếng Nhật chỉ gồm 3 dòng (dòng 1 và dòng 3 có năm âm tiết, dòng 2 có bảy âm tiết). - Thiên về khơi gợi hơn là miêu tả và diễn giải; thường sử dụng quý ngữ. - Kiệm lời mà vẫn gợi nhiều cảm xúc và suy tưởng. b. Thơ Đường luật: * Nội dung:
- - Thể hiện tình yêu thiên nhiên. - Tình yêu quê hương, đất nước. * Hình thức: - Về bố cục: gồm 4 cặp câu tương ứng với bốn phần: đề – thực – luận – kết. - Về luật bằng – trắc: Có quy định về sự hài thanh trong từng câu và trong các bài để đảm bảo sự cân bằng, hài hoà cho âm hưởng của toàn bộ bài thơ. - Về đối: Đối ở câu thực và câu luận. - Tứ thơ: Xây dựng theo các mối quan hệ tương đồng hoặc đối lập, tả ít gợi nhiều, chú trọng miêu tả gián tiếp hơn là trực tiếp. c. Thơ Mới ( 1932 – 1945). * Nội dung: Bộc lộ những tình cảm, cảm xúc cá nhân cũng như ý thức cá tính của con người với nhiều biểu hiện đa dạng, độc đáo. * Hình thức: - Đột phá mạnh mẽ khỏi những nguyên tắc thi pháp chi phối mười thế kỉ thơ trung đại trước đó. - Câu thơ, các phương thức gieo vần, ngắt nhịp, tạo nhạc điệu trở nên linh hoạt, tự do hơn. - Hình ảnh thơ bộc lộ rõ nét dấu ấn chủ quan trong cách quan sát, cảm nhận và tưởng tượng về thế giới của tác giả. 3. Sức sống của Sử Thi * Nội dung: - Xoay quanh những biến cố trọng đại liên quan đến vận mệnh của toàn thể cộng đồng như chiến tranh hay công cuộc chinh phục thiên nhiên để ổn định và mở rộng của cộng đồng. - Phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, hệ giá trị, niềm tin của cộng đồng. * Hình thức: - Dung lượng đồ sộ. - Nhân vật sử thi: Là người anh hùng đại diện cho sức mạnh, phẩm chất lí tưởng và khát vọng chung của cộng đồng, có thể bao quát cả thế giới thần linh và con người. - Thời gian sử thi là quá khứ thiêng liêng, thuộc về một thời đại xa xưa được cộng đồng ngưỡng vọng - Lời kể trong sử thi: Thành kính, trang trọng, nhịp điệu chậm rãi, trần thuật tỉ mỉ, thường xuyên sử dụng thủ pháp so sánh trùng điệp, mang tính khoa trương, cường điệu. 4. Tích trò sân khấu dân gian a. Chèo: * Nội dung: Thể hiện những vấn đề trong cuộc sống xã hội, con người. * Hình thức: - Nghệ thuật chèo mang tính tổng hợp, có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa nói, hát, múa với sự hỗ trợ của các đạo cụ, nhạc khí dân tộc độc đáo, trên cơ sở một tích trò (còn gọi là tích truyện, chèo bán hay đơn giản là tích có sẵn). - Nhân vật của chèo: Gồm nhiều hạng người trong xã hội, có địa vị, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác khác nhau. Gồm 2 loại chính: vai chính (tích cực) và vai lệch (tiêu cực). b. Tuồng: * Nội dung: Diễn đạt những vấn đề trong cuộc sống xã hội, con người. * Hình thức: - Nghệ thuật tuồng: Mang tính tổng hợp, phối hợp cả văn học, ca nhạc và vũ đạo. - Tích tuồng dân gian giàu yếu tố hài, hướng tới châm biếm các thói hư, tật xấu hay đả kích
- một số hạng người nhất định trong xã hội. II. THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT 1. Sử dụng từ Hán Việt: - Nhận biết được từ Hán Việt. - Giải thích được nghĩa của các từ ngữ Hán Việt. - Nêu được ý nghĩa của việc sử dụng từ Hán Việt. - Lưu ý khi dùng từ Hán Việt (đảm bảo đúng ý nghĩa, ngữ cảnh). 2. Lỗi về dùng từ, lỗi về trật tự từ và cách sửa: - Nhận biết được lỗi sai khi dùng từ và sửa lỗi sai đó. - Nhận biết được các lỗi về trật tự từ và sửa lỗi sai. - Đưa ra được các phương án sửa lỗi sai phù hợp. 3. Lỗi về liên kết và mạch lạc trong đoạn văn, văn bản: Dấu hiệu nhận biết và cách chỉnh sửa. - Hiểu thế nào là liên kết và mạch lạc trong đoạn văn, văn bản. - Nhận biết được dấu hiệu của sự mạch lạc. -Thấy được những lỗi sai khi liên kết, diễn đạt. - Đưa ra được các phương án sửa lỗi sai đó. 4. Sử dụng trích dẫn, cước chú và cách đánh dấu phần bị tỉnh lược trong văn bản. - Hiểu ý nghĩa của việc trích dẫn, cước chú và cách đánh dấu phần bị tỉnh lược trong văn bản. - Nâng cao kĩ năng sử dụng trích dẫn. - Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. III. ÔN TẬP KĨ NĂNG VIẾT: 1. VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN(Chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật) a. Đặc điểm của văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện * Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện là dạng bài mà ở đó ta bày tỏ những nhận xét, quan điểm riêng biệt. * Các yếu tố của truyện gồm: + Chủ đề + Các yếu tố về hình thức nghệ thuật: nhan đề, cốt truyện, nhân vật, tình huống truyện, lời thoại, ngôi kể Ví dụ: - Yếu tố kỳ ảo trong truyện thần thoại. - Tình huống cho chữ trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. b. Yêu cầu đối với văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện * Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm truyện (nhan đề, tên tác giả, ) và ý kiến khái quát của người viết về tác phẩm. * Tóm tắt tác phẩm truyện (vừa đủ để người đọc nắm được nội dung chính). * Phân tích cụ thể, rõ ràng về tác phẩm truyện (chủ đề, nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật và tác dụng của chúng) với những cứ liệu sinh động. * Đánh giá về tác phẩm truyện dựa trên các lí lẽ và bằng chứng thuyết phục. * Khẳng định giá trị của tác phẩm truyện.
- c. Dàn ý chung của văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện * Mở bài: Nêu vấn đề cần nghị luận. * Thân bài: Lần lượt trình bày hệ thống luận điểm, luận cứ và dẫn chứng theo một trình tự nhất định để làm sáng tỏ vấn đề đã nêu ở mở bài. * Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận và giá trị của tác phẩm 2. VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ MỘT TÁC PHẨM THƠ. a. Tìm hiểu những đặc điểm của bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm thơ * Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ không phải là một bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. *Kiểu bài viết này đòi hỏi sự chặt chẽ trong lập luận, sự sáng rõ, sắc nét của luận điểm và sự mạch lạc trong tổ chức bài viết. * Bởi vậy, người viết cần nắm chắc các tri thức về đặc trưng thi ca đã được giới thiệu trong các bài học và được làm rõ qua các tiết đọc văn bản để có những phân tích, đánh giá thuyết phục. Mặt khác, kiểu bài này cũng vẫn khuyến khích người viết thể hiện những rung cảm và tưởng tượng của mình khi chiếm lĩnh bài thơ. b. Các yếu tố chủ yếu của một bài thơ gồm: * Mạch cảm xúc của thi nhân được gửi qua những rung động và tình cảm của nhân vật trữ tình. * Các yếu tố về hình thức nghệ thuật: Từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh, c. Yêu cầu đối với bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ * Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn (tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, khuynh hướng, trào lưu văn học gắn với bài thơ; lí do lựa chọn bài thơ để phân tích, đánh giá). * Chỉ ra và phân tích được những nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ (từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh, ) * Đánh giá giá trị của bài thơ về phương diện ngt cũng như ý nghĩa nhân sinh. d. Dàn ý chung của bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ * Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ (tác giả, thời điểm ra đời, nơi xuất bản, đánh giá chung của dư luận, ) và nêu vấn đề chính sẽ được tập trung phân tích trong bài viết. * Thân bài (cần triển khai các ý): + Phân tích, đánh giá mạch ý tưởng, cảm xúc của nhân vật trữ tình (nhân vật trữ tình muốn biểu đạt điều gì, thông qua hình tượng nào, với cái nhìn và thái độ ra sao, ). + Phân tích, đánh giá sự phát triển của hình tượng chính (qua các khổ, đoạn trong bài) và tính độc đáo của những phương tiện ngôn từ đã được sử dụng (từ ngữ, cách gieo vần, ngắt nhịp, các biện pháp tu từ, ). + Phân tích, đánh giá nét hấp dẫn riêng của bài thơ so với những sáng tác khác cùng đề tài, chủ để, thể loại (của chính nhà thơ hoặc của những tác giả khác). * Kết bài: Khẳng định giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ, ý nghĩa của bài thơ đối với người viết bài nghị luận. 3. BÀI LUẬN THUYẾT PHỤC NGƯỜI KHÁC TỪ BỎ MỘT THÓI QUEN HAY MỘT QUAN NIỆM. a. Đặc điểm của bài văn nghị luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay quan niệm * Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay quan niệm là nêu ý kiến, sử dụng lí lẽ và dẫn chứng để thuyết phục người có thói quen, quan niệm chưa đúng, tiêu cực thay đổi theo chiều hướng đúng đắn, tích cực. * Thói quen là những cử chỉ, hành động lặp đi lặp lại lâu ngày. Ví dụ về thói quen xấu: thói quen vứt rác bừa bãi; lãng phí thời gian, ỷ lại người khác, dùng thuốc kháng sinh tuỳ tiện,
- * Quan niệm là cách hiểu, cách nhận thức, của mỗi người về một vấn đề. Ví dụ về quan niệm chưa đúng đắn như: có tiền là có tất cả, không chơi với những bạn học kém hơn, im lặng là vàng,... * Vấn đề có thể là một tư tưởng, đạo lí; một hiện tượng có thực trong đời sống con người hoặc một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học. b. Yêu cầu đối với bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm * Tìm hiểu đề (đọc kĩ đề bài; xác định đối tượng của bài viết, mục đích của bài viết thuyết phục từ bỏ thói quen hoặc quan niệm nào). * Nêu lí do và phân tích các ảnh hưởng tiêu cực, tác hại của thói quen, quan niệm cần phải thay đổi, từ bỏ. * Có các dẫn chứng cụ thể, sinh động về những ảnh hưởng tiêu cực, tác hại của thói quen, quan niệm đó. Ví dụ: + Các số liệu thống kê + Các ví dụ cụ thể, sự kiện hoặc tình huống mà bả thân đã trải qua. + Các câu chuyện truyền tải thông điệp phù hợp với quan niệm của em + Các trích dẫn phát biểu của những người có liên quan. * Dự đoán phản ứng và lập luận của người có thói quen, quan niệm mà em muốn thuyết phục để nêu ý kiến phản biện của em. c. Dàn ý chung của bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay quan niệm * Mở bài: Dẫn dắt và nêu thói quen hoặc quan điểm cần thuyết phục người khác từ bỏ. * Thân bài: Lần lượt trình bày hệ thống luận điểm, luận cứ và dẫn chứng theo một trình tự nhất định để thuyết phục người khác từ bỏ thói quen hoặc quan niệm đó Kết bài: Khẳng định lại thông điệp mọi người cần từ bỏ thói quen hoặc quan niệm chưa tốt; rút ra bài học cho bản thân. B. LUYỆN TẬP PHẦN 1: ĐỌC HIỂU ĐỀ 01 Đọc văn bản sau: CỔ TÍCH ẤM SỨT VÒI (Trần Đức Tiến) Trong quán nước bên đường, có một cái ấm pha trà đã cũ. Vòi ấm bị sứt một miếng nhỏ. Chủ quán mấy lần định thay, nhưng vì chưa có tiền nên cứ để dùng tạm. Vả lại trông thế nhưng ấm còn tốt chán. Bản thân chiếc ấm như cũng hiểu được hoàn cảnh của ông chủ. Nó tự nhủ: mình đã bị khuyết tật thì phải cố làm việc cho tốt. Thế là ấm luôn chú ý giữ cho mình sạch sẽ. Nó hãm trà bằng nước sôi thật khéo, bao giờ trà cũng vừa chín và tỏa hương thơm phức. Khi rót trà ra chén, qua cái vòi bị sứt, nó cẩn thận không để nước rớt ra ngoài. Cái ấm có phần hơi xấu xí ấy cứ tận tình phục vụ khách hết ngày này qua ngày khác. Lâu dần thành quen, ai vào quán cũng chỉ muốn dùng trà trong cái ấm sứt vòi. Mùa đông, có người pha trà xong, còn khum khum hai lòng bàn tay ôm lấy chiếc ấm thật lâu. Một hôm, bỗng có một vị khách từ nơi xa đến. Nhìn thấy chiếc ấm hơi khác thường, ông ta nhấc lên, chăm chú ngắm nghía hồi lâu. Đoạn cất tiếng nói với chủ quán: - Ấm quý! Nếu ông bằng lòng để lại cho tôi, tôi sẽ trả cho ông thật hậu. - Dào ôi! Bác khéo đùa! – Ông chủ nhìn khách nở nụ cười thật thà – Chẳng qua chỉ là cái ấm sứ bình thường, do vô ý tôi đánh mẻ ở vòi. Quán nghèo nên mới phải để dùng tạm - Ông bảo ấm bình thường à? Ba trăm năm mà bình thường à?
- - Bác vừa nói gì cơ? - Tôi bảo cái ấm này đã ra đời cách đây ba thế kỉ. Nếu tính tuổi thì tôi với ông còn phải gọi ấm là cụ tổ của cụ tổ đấy! Tóm lại là đồ cổ, quý hiếm cực kì. Nghe giọng nói quả quyết của ông khách, cái ấm suýt rùng mình. Thiếu bản lĩnh một chút thì nó đã để cho nước sôi trào ra miệng. Nhưng nó kịp trấn tĩnh. Không ai tự biết mình bằng mình, ấm nghĩ thầm. Nó biết nó ra đời ở một cái lò gốm sứ ven sông, chỉ mới cách đây hơn chục năm. Cái ông khách tưởng như sành đồ cổ kia, hóa ra nhìn gà hóa cuốc. - Thế nào? Ông để lại cho tôi chiếc ấm này chứ? Chủ quán ngần ngừ, nhìn chiếc ấm như muốn hỏi: “Người ta tha thiết như thế, ngươi tính sao”? Chiếc ấm im lặng. Nó không nói được, tất nhiên rồi. Đất có nung thành sứ thì cũng chả cất nên lời. Nhưng ấm biết suy nghĩ. Và ông chủ hiểu được những suy nghĩ của nó. Chính vì thế mà ông ngẩng lên nói với khách: - Nó không đồng ý, bác ạ. Nó biết sứ mệnh cao quý của nó là biến những cái búp trà thành thứ nước uống tuyệt vời, như tất cả những cái ấm lão luyện khác. Bao nhiêu năm nay, nó đã tận tụy phục vụ khách hàng của tôi. Đến nỗi sứt mẻ cả mình mẩy mà vẫn không nề hà Khách ở quán tôi ai cũng chuộng nó. Tôi không thể vì tiền mà phụ họ được. Vậy là cái ấm sứt vòi vẫn được ở lại trong cái quán nước nghèo, làm cái công việc sở trường của nó là pha trà. Đôi khi nó nghĩ: May mà ông chủ quán không tham! Nếu không thì vị khách gà mờ kia đã mất oan cả đống tiền. Còn nó, dù được trưng bày trong tủ kính, hay quăng quật mua đi bán lại, sao cũng đến lúc thân phận bị lộ tẩy. Tưởng ba trăm năm, hóa ra có mười năm Lúc ấy thì xấu hổ chết đi được! Có hôm nào ghé quán nước nhìn thấy chiếc ấm ấy, bạn hãy tưởng tượng thêm những câu chuyện thú vị về nó nhé. Tôi cam đoan chiếc ấm sứt vòi nào cũng chứa trong mình khối chuyện lí thú, có khi cả chuyện cổ tích nữa ấy chứ! (In trong Xóm Bờ Giậu, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2021) Trả lời các câu hỏi sau Câu 1. Vì sao vị khách từ nơi xa đến muốn ông chủ quán để lại chiếc ấm? Câu 2. Chi tiết Nó tự nhủ: mình đã bị khuyết tật, thì phải cố làm việc cho thật tốt thể hiện điều gì về chiếc ấm cũ? Câu 3. Theo bạn, vì sao chiếc ấm cho rằng Không ai tự biết mình bằng mình? Câu 4. Anh/chị hiểu được điều gì về chiếc ấm qua câu nói của ông chủ: Bao nhiêu năm nay, nó đã tận tụy phục vụ khách hàng của tôi. Đến nỗi sứt mẻ cả mình mẩy mà vẫn không nề hà Khách ở quán tôi ai cũng chuộng nó. Tôi không thể vì tiền mà phụ họ được. Câu 5. Nhận xét về thái độ, tình cảm mà ông chủ quán dành cho chiếc ấm trong câu chuyện. Câu 6. Từ câu chuyện về chiếc ấm sứt vòi, bạn rút ra bài học gì cho mình? Đề 02: * Đọc văn bản sau : Chử Lầu (Thần thoại H’Mông) Chử Lầu sau khi sáng tạo ra trời đất bèn làm một lúc 10 mặt trời, 9 mặt trăng và rất nhiều sao để chiếu rọi cho khô ráo và cho sáng. Về sau vì loài người sợ rằng những thứ đó rơi xuống có thể làm nguy hại cho trần gian nên xin Chử Lầu cất đi nhưng Chử Lầu không cất, chỉ làm thêm một cái màng xanh ngăn giữa đất và tinh cầu để cho loài người an tâm. Mười mặt trời là nữ, chín mặt trăng là nam được Chử Lầu cho một cái hồn vào miệng và thổi hơi cho hoạt động. Những tinh cầu2 ấy hun đốt trong bảy năm liền. Trong thời gian đó, chỉ có ngày mà không có đêm. Khi đất đã khô ráo, Chử Lầu làm ra mọi thứ cỏ cây, muôn vật và người. Con người do Chử Lầu dùng đất nặn thành, cho hồn vào bụng, tiếng nói ở cổ họng và thổi hơi vào cho sống. Mọi vật phát triển rất chóng, chả mấy lúc mà đầy cả mặt đất. Nhưng vì nóng quá, con người bèn chặt
- cây lớn làm cung tên khổng lồ, bắn vào các mặt trời và mặt trăng. Chín mặt trời và tám mặt trăng trúng tên ngay còn hai cái nữa trốn thoát. Trong khoảng đó có đêm không ngày người ta sống trong cảnh đen tối, lạnh lẽo. Họ cố nài3 mặt trời và mặt trăng trở lại nhưng chúng không nghe. Các giống vật cử cọp đi gọi, nhưng cũng không được. Sau bảy năm, nhờ có gà gọi mãi đến lần thứ bảy, chúng mới chịu trở về, Chử Lầu thưởng cho gà một cái mào đỏ vì có công trạng ấy. Con người lúc đó sống đến 900 tuổi, đến hạn cũng chết, nhưng được vào vườn Din-giang- ca4 của Chử Lầu. Ở đó tròn 12 ngày tự nhiên lột da, sống và trẻ lại rồi trở về nhà cũ. Nhưng có một nhà nọ, nàng dâu xích mích với mẹ chồng, thường hắt hủi và xỉ vả5 nên mẹ chồng giận, quyết ở luôn tại vườn Din-giang-ca không về. Ở đây bà ta ăn quả đào trắng, uống nước suối, phạm vào lệnh cấm của Chử Lầu. Chử Lầu giận, bèn cấm loài người không được đến vườn của mình nữa. Từ đó, loài người hễ chết là chết luôn. Lúc đó công việc làm đồng áng rất nhẹ nhàng. Cỏ không có, cây cối tự nhiên mọc và có quả. Ngô ăn được cả lá. Người ta chỉ mất công gieo ngô và lúa là có ăn. Mỗi lần lúa chín tự nhiên nó bay về, không phải gặt. Nhưng có một người kia phần việc là mang cơm ra đồng cho mọi người ăn, thấy nhóm mình làm việc quá chóng: vừa đặt cơm ở chỗ này thì họ đã tiến cách đó rất xa. Người ấy bèn xin Chử Lầu hiện cỏ ra mặt đất để cho công việc chậm lại. Chử Lầu nghe lời. Vì thế mà từ đó công việc đồng áng rất chật vật. Lại có một nhà khác có người đàn bà nhác6 không chịu quét dọn nhà cửa để đón lúa nên lúc lúa bay về thấy bẩn thỉu bèn rủ nhau từ đấy quyết không tự về nữa (Theo Bùi Văn Nguyên, Đỗ Bình Trị, Tư liệu tham khảo văn học Việt Nam, Tập I : Văn học dân gian, phần III, NXB Giáo dục, 1976. Tr.93 – 96) Trả lời các câu hỏi: Câu 1. Xác đinh thể loại của văn bản trên? Câu 2. Vì sao Chử Lầu thưởng cho gà cái mào đỏ? Câu 3. Trong truyện Chử Lầu, người xưa bày tỏ ước mơ gì? Câu 4. Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu: Lại có một nhà khác có người đàn bà nhác không chịu quét dọn nhà cửa để đón lúa nên lúc lúa bay về thấy bẩn thỉu bèn rủ nhau từ đấy quyết không tự về nữa. Tác dụng của biện pháp tu từ đó? Câu 5. Chỉ ra các yếu tố thần kì và tác dụng của các yếu tố đó? Câu 6. Qua văn bản Chử Lầu, anh/chị có suy nghĩa gì về cuộc sống hiện thực và khát vọng của con người thời cổ? Viết đoạn văn 8-10 dòng trình bày ý kiến của anh/chị về vấn đề này? ĐỀ 03 Đọc đoạn trích "Phạm Tử Hư quê ở Cẩm Giàng, là một người tuấn sảng hào mại không ưa kiềm thúc. Theo học nhà xử sĩ Dương Trạm, Trạm thường răn Tử Hư về cái tính hay kiêu căng. Từ đấy chàng cố sức sửa đổi, trở nên người có đức tính tốt. Khi Dương Trạm chết, các học trò đều tản đi cả, duy Tử Hư làm lều ở mả để chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về. Năm 40 tuổi, Tử Hư đi thi vẫn chưa đỗ; đời Trần, sang du học ở kinh, ngụ ở trong một nhà dân bên bờ hồ Tây Một buổi sáng, ở nhà trọ đi ra, trong áng sương mù thấy có một đám những tán vàng kiệu ngọc bay lên trên không; kế lại có một cỗ xe nạm hạt châu, kẻ theo hầu cũng rất chững chạc. Tử Hư khẽ dòm trộm xem thì người ngồi trong xe, chính thầy học mình là Dương Trạm. Chàng toan đến gần sụp lạy nhưng Trạm xua tay nói: - Giữa đường không phải chỗ nói chuyện, tối mai nên đến đền Trấn Vũ cửa Bắc, thầy trò ta sẽ hàn huyên. Tử Hư bèn sắm rượu và thức nhắm, đúng hẹn mà đến. Thầy trò gặp nhau vui vẻ lắm, chàng nhân hỏi rằng:
- - Thầy mới từ trần chưa bao lâu, thoắt đã trở nên hiển hách khác hẳn ngày trước, xin thầy cho biết rõ duyên do để con được vui mừng. Dương Trạm nói: - Ta thuở sống không có một điều thiện nào đáng khen, chỉ có hay giữ điều tín thực đối với thầy bạn, quý trọng những tờ giấy có chữ, hễ thấy rơi vãi liền nhặt mà đốt đi. Đức Đế quân đây ngài khen là có bụng tốt tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Tử đồng. Hôm qua ta hầu lính giá ngài lên chầu Thiên cung, tình cờ lại gặp nhà ngươi, đó cũng là vì thầy trò mình có cái mối duyên " (Trích chuyện Phạm Tử Hử lên chơi Thiên Tào, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Trẻ,2016,Tr.142) Trả lời câu hỏi sau: Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên? Câu 2. Theo đoạn trích, tính cách nào của Tử Hư được Dương Trạm răn đe và sửa đổi? Câu 3: Hiệu quả nghệ thuật của chi tiết kì ảo được sử dụng trong đoạn trích? Câu 4. Chi tiết khi Dương Trạm chết, các học trò đều tản đi cả, duy Tử Hư làm lều ở mả để chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về, cho thấy Phạm Tử Hư là người như thế nào? Câu 5. Cảm nhận của anh/chị về tình thầy trò giữ Phạm Tử Hư và Dương Trạm?
- Câu 6. Từ những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình, anh /chị có suy nghĩ gì về truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta? ĐỀ 04: Đọc đoạn trích và thực hiện yêu cầu: Bắt đầu từ hôm ấy, những tập thơ cổ được giũ lớp bụi ngầu và ra khỏi cái níp sách sơn son. Cụ Nghè Móm bắt đầu nghiền lại tập thơ của người xưa. Đường thi, Tống thi, Minh thi; đọc đến một bài, đọc hết một câu, gặp được một chữ đột ngột, cụ ngừng lại, ghé mắt kém vào mặt chữ nhỏ như con kiến, cụ vắt tay lên trán, nghĩ ngợi và lẩm bẩm. Rồi cụ ngồi nhỏm dậy, sao cả bài thơ ấy vào một cuốn sách giấy bản mới mẻ. Nhưng thường cụ chỉ trích lấy một câu ở những bài thơ đọc rất kỹ lưỡng đó. Ngày năm câu, ngày ba câu, một ngày gần đấy, cuốn sách đã đặc những dòng chữ thảo chép những câu thơ rút ở cổ thi. Cô Tú theo lời cha dặn, đã đi mua sẵn rất nhiều tờ giấy tàu bạch ra rọc giấy ra từng mảnh dài bằng chiếc đũa và ngang to bằng hai ngón tay - Đừng nghịch, thầy trông thấy, thầy mắng chết. Giấy này để làm gì à? Thầy sẽ viết những câu thơ cổ vào đấy để bày ra giữa chiếu những lúc thả thơ. - Thả thơ? Có làm thơ thì có, chứ thầy và các anh ấy có nói thả thơ bao giờ. Cô Tú vốn yêu những cậu học trò nhỏ tuổi của cha mình như một người chị lớn đối với em út, cô không khỏi nín cười để giảng: - Thầy sẽ viết vào mảnh giấy trắng này một câu thơ bảy chữ mà chỉ... có sáu chữ thôi. Còn một chữ thì để trống và thay vào đấy một cái khuyên tròn. Cái khuyên tròn thay chữ đó thường gọi là chữ vòng. Đây này, chị lấy một câu làm thí dụ thì các em rõ ngay. Các em biết câu: “Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần” đấy chứ? ừ, thí dụ bây giờ định thả câu thơ ấy. Và định vòng chữ “hướng” ở đoạn dưới. - Thầy sẽ viết vào mảnh giấy nhỏ này: “Quân hướng Tiêu Tương, ngã... Tần”. Và khi ngâm câu thất ngôn có sáu chữ ấy lên thì thường phải ngâm: “Quân hướng Tiêu Tương, ngã... “vòng” Tần”. Chữ “vòng” đây thay vào chỗ để trống. Bây giờ mới nói đến những chữ “thả” ra. Thí dụ thầy thả năm chữ: cố, tại, vọng, phản và luôn cả cái chữ hướng trong nguyên văn. Thường chỉ thả có năm chữ thôi. (Trích Thả thơ, Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân, Nxb Văn học, 1980) Trả lời câu hỏi: Câu 1. Xác định ngôi kể . Câu 2. Thú văn chương được bàn đến ở đây là gì? Câu 3. Cụ Nghè Móm chuẩn bị cho thú văn chương đó như thế nào? Câu 4. Qua đoạn trích anh/chị nhận xét gì về nhân vật cụ Nghè Móm Câu 5. Anh/Chị hãy nhận xét về thái độ của người xưa đối với văn chương? Câu 6. Nhà văn Nguyễn Tuân gửi gắm điều gì qua những dòng văn bản trên? ĐỀ 05 Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu: Khi Uy-lít-xơ từ phòng tắm bước ra, trông người đẹp như một vị thần. Người lại trở về chỗ cũ, ngồi đối diện với Pê-nê-lốp, trên chiếc ghế bành ban nãy, rồi nói với nàng: - Khốn khổ! Hẳn là các thần trên núi Ô-lem-pơ đã ban cho nàng một trái tim sắt đá hơn ai hết trong đám đàn bà yếu đuối, vì một người khác chắc chắn không bao giờ có gan ngồi cách xa chồng như thế, khi chồng đi biền biệt hai mươi năm trời, trải qua bao nỗi gian truân, nay mới được trở về xứ sở. Thôi, già ơi ! Già hãy kê cho tôi một chiếc giường để tôi ngủ một mình, như bấy lâu nay, vì trái tim trong ngực nàng kia là sắt. Pê-nê-lốp thận trọng đáp: - Khốn khổ! Tôi không coi thường, coi khinh ngài, cũng không ngạc nhiên đến rối trí đâu. Tôi biết rất rõ ngài như thế nào khi ngài từ giã I-tác ra đi trên một chiếc thuyền có mái chèo dài. Vậy thì,
- Ơ-ri-clê ! Già hãy khiêng chiếc giường chắc chắn ra khỏi gian phòng vách tường kiên cố do chính tay Uy-lít- xơ xây lên, rồi lấy da cừu, chăn và vải đẹp trải lên giường. Nàng nói vậy để thử chồng, nhưng Uy-lít-xơ bỗng giật mình nói với người vợ thận trọng: - Nàng ơi, nàng vừa nói một điều làm cho tôi chột dạ. Ai đã xê dịch giường tôi đi chỗ khác vậy? Nếu không có thần giúp đỡ thì dù là người tài giỏi nhất cũng khó lòng làm được việc này. Nếu thần linh muốn xê dịch đi thì dễ thôi, nhưng người trần dù đang sức thanh niên cũng khó lòng lay chuyển được nó. Đây là một chiếc giường kì lạ, kiến trúc có điểm rất đặc biệt, do chính tay tôi làm lấy chứ chẳng phải ai [ ] Người nói vậy, và Pê-nê-lốp bủn rủn cả chân tay, nàng thấy Uy-lít-xơ tả đúng mười mươi sự thực. Nàng bèn chạy ngay lại, nước mắt chan hòa, ôm lấy cổ chồng, hôn lên trán chồng và nói: Uy-lít-xơ ! Xin chàng chớ giận thiếp, vì từ xưa nay chàng vẫn là người nổi tiếng khôn ngoan. Ôi ! Thần linh đã dành cho hai ta một số phận xiết bao cay đắng vì người ghét ghen ta, không muốn cho ta được sống vui vẻ bên nhau, cùng nhau hưởng hạnh phúc của tuổi thanh xuân và cùng nhau đi đến tuổi già đầu bạc. Vậy giờ đây, xin chàng chớ giận thiếp, cũng đừng trách thiếp về nỗi gặp chàng mà thiếp không âu yếm chàng ngay. Thiếp luôn luôn lo sợ có người đến đây, dùng lời đường mật đánh lừa, vì đời chẳng thiếu gì người xảo quyệt, chỉ làm điều tai ác .Giờ đây, chàng đã đưa ra những chứng cớ rành rành, tả lại cái giường không ai biết rõ, ngoài chàng với thiếp và Ác-tô-rít, một người thị tì của cha thiếp cho, khi thiếp về đây, và sau đó giữ cửa gian phòng vách tường kiên cố của chúng ta. Vì vậy chàng đã thuyết phục được thiếp và thiếp phải tin chàng, tuy lòng thiếp rất đa nghi. Nàng nói vậy, khiến Uy-lít-xơ càng thêm muốn khóc. Người ôm lấy người vợ xiết bao thân yêu, người bạn đời chung thuỷ của mình mà khóc dầm dề. (Trích Ô-đi-xê, sử thi Hy Lạp, HÔ-ME-RƠ, theo bản dịch ra văn xuôi của PHAN THỊ MIẾN, NXB Văn học, Hà nội, 1983.) Trả lời câu hỏi: Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào? Câu 2. Nêu nội dung chính của văn bản? Câu 3. Câu văn “Khi Uy-lít-xơ từ phòng tắm bước ra, trông người đẹp như một vị thần” sử dụng biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó? Câu 4. Nêu ý nghĩa chi tiết chiếc giường trong đoạn trích. Câu 5. Chỉ ra những đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện sử thi được thể hiện ở đoạn trích. Câu 6. Viết đoạn văn (khoảng 5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của lòng chung thuỷ trong tình yêu. ĐỀ 06 Đọc văn bản: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay? Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
- Ai biết tình ai có đậm đà?” (“Đây thôn Vĩ Dạ”- Hàn Mặc Tử) Thực hiện yêu cầu: Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản trên. Câu 2: Tìm những hình ảnh miêu tả thôn Vĩ ở thời điểm nắng mới lên Câu 3: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó trong câu thơ Vườn ai mướt qua xanh như ngọc Câu 4: Xác định hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng những câu hỏi ở bài thơ Câu 5: Chỉ ra mạch vận động của hình ảnh, cảm xúc trong bài thơ. Câu 6: Nhận xét tình cảm tác giả dành cho thiên nhiên và con người thôn Vĩ. ĐỀ 07: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: Lưu Bình - Dương Lễ là một trong bảy vở chèo cổ đầu tiên của nghệ thuật sân khấu chèo Việt Nam. (Lưu Bình và Dương Lễ là hai người bạn tâm giao từ thuở thiếu thời.. Dương Lễ biết phận mình là con nhà nghèo nên ra sức học, còn Lưu Bình cậy mình có của nên lười biếng, ham chơi. Ðến khoa thi, Dương Lễ thi đậu được bổ ra làm quan. Còn Lưu Bình thì thi rớt nên sinh ra chán nản, ăn chơi hơn trước, thi mãi không đậu, tiền của thì đâu phải là bất tận rồi cuối cùng cũng hết. Trong lúc đó thì cậu ta sực nhớ đến bạn ngày xưa là Dương Lễ hiện đang làm quan lớn nên tìm đến nhà để nhờ giúp đỡ. Dương Lễ lánh mặt không tiếp, dọn cơm hẩm với đĩa cà thâm để đãi, có vẻ khinh bạc. Lưu Bình tức giận tủi nhục ra về, dọc đường ghé lại quán trọ, làm quen với một thiếu phụ tên là Châu Long (vợ lẽ được Dương Lễ cho đi để giúp đỡ, nuôi bạn ăn học thành tài) .Nhờ sự khuyến khích giúp đỡ của Châu Long nên Lưu Bình ráng sức học hành tiến bộ, đến khoa thi năm đó thi đỗ Trạng nguyên. Trở về nhà thì không thấy Châu Long đâu nữa. Hỏi thăm khắp nơi không ai biết nàng ở đâu, Lưu Bình cũng không hiểu vì sao Châu Long lại biến mất vào lúc mình đã hiển đạt, nên đâm ra lo lắng, đau khổ, nhớ thương. Lưu Bình tìm đến thăm Dương Lễ để mắng mỏ mấy câu cho hả giận. Dương Lễ vui vẻ đón tiếp. Lưu Bình toan mở miệng mỉa mai trách móc, thì bỗng thấy Châu Long từ trong bước ra chào. Dương Lễ mới giới thiệu nàng là thiếp thứ ba của mình. Lưu Bình hiểu ngay rằng trước đây Dương Lễ sở dĩ bạc đãi là để khích khí mình, sợ mình không có nơi nương tự.) LƯU BÌNH -DƯƠNG LỄ [ ] LƯU BÌNH – Thương ơi, tôi thi thời không đỗ Về đến nhà, nhà cháy sạch không Ờ ờ bác Dương công rầy đã hiển vinh Tình bằng hữu ắt thương mình mới phải Nghĩ đi song còn nghĩ lại Trông thấy người lại tủi đến thân Âu là ta đành cố mà sang Họa người nhớ kim lan nghĩa cũ Đây đã tới dinh bác Dương rồi đó Biết cậy ai vào bẩm cho cùng Không biết các chú tiểu đồng đi đâu vắng cả? HẦU PHÒNG – Anh em ơi, ra quét cùng dinh phải lẽ chăng? Tôi thằng Phòng, hầu quan Dương Lễ Bấy lâu nay đầy tớ chân tay Người ăn thôi, tôi lạI đặt bày Của thừa thãi tha hồ sung sướng. (vỉa hát nhịp đuổi)Đất ngài đây Thanh lịch đất hữu tình Có đường vô sảnh tới dinh quan lưu đồn Ba trăm trấn thủ lưu đồn Ngày thời canh điếm, tối dồn việc quan Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn Tiếng đế: Chú Phòng ơi, nhà ngoài có khách! LƯU BÌNH – (chào vào) Tôi chào cậu phòng HẦU PHÒNG – Anh này láo! Thấy tôi có đứa em gái chào ngay bằng cậu. LƯU BÌNH – Dạ thưa chú, HẦU PHÒNG – Ơ, mỗi ngày một quá. Tôi là em ruột anh đấy à? LƯU BÌNH – Xin thưa với bác HẦU PHÒNG – Bác thì tạm được. Tên anh là gì? LƯU BÌNH – Tên tôi gọi là Lưu Bình vốn quê ở Bắc Ninh Bạn cùng quan Dương Lễ Từ thuở hàn vi tấm bé
- Nhớ ngãi xưa tôi vội vã sang hầu. HẦU PHÒNG – Cái nhà anh này. Quần nước xáo, áo nước dưa, bạn với tôi còn không đáng huống chi bạn đòi bạn với quan, có ra ngay không tôi đánh bây giờ! LƯU BÌNH – Thưa với bác: Bạn là bạn lúc hàn vi hai sách một đèn Còn bây giờ lỡ bước truân chuyên Sang ăn mày quan tiền, thưng gạo để về đi học. HẦU PHÒNG – À, bạn từ lúc còn bưng nghiên mài mực cho nhau kia đấy. Tôi không biết. Bác là học trò thật đấy à? Tôi ra một câu đối, hễ đối được, tôi vào tôi bẩm cho. Nghe đây: Nhĩ tiểu sinh hà xứ đắc lai LƯU BÌNH – Tôi xin đối rằng:Ngã quân tử đãi thời nhi phát HẦU PHÒNG – A, hay đấy, giỏi đấy Gửi cùng quan bác Ngoài hàng kia mời bác sẽ ra Ông tôi còn đang dở tiệc hoa Mai sáng sớm, giờ dần sẽ tới Rồi tôi sẽ liệu lời bẩm tới Có thế nào sẽ mách bác hay (cùng hạ) Tiếng đế: Mời quan ra nhà ngoại có khách! DƯƠNG LỄ - Kể từ chiếm được bảng vàng Lòng thương bạn ngày đêm canh cánh - Hầu, có ai vào bẩm báo gì không? HẦU PHÒNG – Dạ, có một người nho sĩ Tên gọi Lưu Bình Nói là bạn với quan từ trước DƯƠNG LỄ - Đúng là bạn của ta rồi. Con trông bác ấy ăn mặc, có khá không? HẦU PHÒNG – Khá lắm ạ! Bao nhiêu là ái, bao nhiêu là quần, bao nhiêu là khăn! Cái áo không phải đoạn cũng chẳng phải the Dưới thì tua mướp quét hè Trên lại có chỉ thêu bằng rơm mầu kim tuyến DƯƠNG LỄ - Thế là áo rách rồi! HẦU PHÒNG – Hỏng áo nhưng được quần ạ! DƯƠNG LỄ - Quần bằng gì? Cấp trắng hay lụa bạch? HẦU PHÒNG – Bẩm đứng xa thì con ngỡ là quần nhưng đến gần thì hóa ra là cái vòi quần DƯƠNG LỄ - Người có béo tốt không, con? HẦU PHÒNG – Béo lắm ạ! Nhưng mà chỉ có béo mặt với hai bàn chân thôi. DƯƠNG LỄ - Vậy là phú rồi. Mau ra cửa dinh Để đón mừng bạn quý (Hề hắt hơi) - Bớ hề! Sao tao định đón bạn mà con lại hắt hơi HẦU PHÒNG – Dạ, bẩm quan, mũi giả hỉ dã. Tin mừng đấy ạ DƯƠNG LỄ - Thôi, truyền cấm cửa! Mời ba bà ra ông hỏi. HẦU PHÒNG – Mời ba bà ra cho ông dạy chuyện. [...] (Dương Lễ gọi ba bà vợ ra, hỏi trong ba bà, ai đi chăm nuôi bạn Lưu Bình ăn học giúp mình. Bà cả, bà hai đều từ chối, chỉ có bà ba Châu Long nguyện đi nuôi bạn giúp chồng). DƯƠNG LỄ - Hầu con, mai bác Lưu Bình có vào thì con nhớ sỉ nhục, đuổi đi, nghe con! HẦU PHÒNG – Dạ! (cùng hạ) CHÂU LONG (mang khăn gói lên đường, hát câu thiết tha) Thiếp vâng lời chàng năn nỉ thiết tha Ngọt ngào đầu lưỡi, mặn mà bên tai Đi ra mắc tiếng để đời Không đi lại sợ lòng người biết bao Tôi há quản công lênh nào (hạ) LƯU BÌNH – Thương ơi, ngày hôm qua ra đường gặp gái Tôi đi không lại trở về không Ngày hôm nay tang tảng rạng đông Vào hầu sớm kẻo quan ngài đi vắng Thôi ngồi lại đứng Từ tinh sương cho đến chiều hôm Chú hề ơi, chú có bẩm dùm
- Ở cũng dở mà về cũng dở. HẦU PHÒNG – Tôi đã bẩm với quan tôi rồi LƯU BÌNH – Cậu bẩm cho rồi ạ? HẦU PHÒNG – Quan tôi cũng có nhận là bạn nhưng sau quan tôi nghĩ ra không phải là bạn. Quan quở tôi, đánh tôi đau quá. Bây giờ tôi nghĩ cái tình bác, tôi thương bác chưa làm nên nhưng sau này bác cũng làm nên như quan tôi. Chỗ quan tôi ngồi bác cứ ngồi mà nghỉ. LƯU BÌNH – Bẩm...tôi không dám ngồi ạ. HẦU PHÒNG – Ô hay, trong thì quyền ngài, ngoài thì quyền tôi. Tôi cho ngồi thì cứ ngồi. LƯU BÌNH – Xin vâng! HẦU PHÒNG – Anh ta ở ngoài trông xấu xí thế mà ngồi vào chỗ của quan trông cũng tươi. Vắt chân chữ mười lăm tôi xem nào? LƯU BÌNH – Chữ mười lăm là chữ gì ạ? HẦU PHÒNG – Là ba lần chữ ngũ ấy (trở mặt). Ai cho ngồi vào ghế quan hở? LƯU BÌNH – Cậu bảo tôi ngồi. HẦU PHÒNG – Anh có ngồi thì anh cũng mời tôi một tiếng: Mời cậu ngồi chứ. Ờ thôi, tôi thương anh là học trò nghèo, tôi hỏi anh một câu mạch sách nhá. Anh giảng được thfi tôi cho bát cơm ăn mà về. Nghe đây. Chu công đông chinh, hoàng long phụ chu, Chu trung nhân cụ, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết: “Ngô thụ mệnh ư thiên? Câu đó nghĩa là: Ông Chu vác cái minh tinh chạy về đằng đông. Người ngồi trong thuyền rồng ăn cỗ, người vũ đi qua kêu: Ối giời ơi, tao chịu tiền mày!” Có phải không? LƯU BÌNH – Thưa cậu không phải thế ạ! HẦU PHÒNG – (đánh Lưu Bình) Ai bảo không phải hả? LƯU BÌNH – À, vâng, thưa cậu phải rồi ạ. HẦU PHÒNG – Có thế chứ. Hôm qua tôi bẩm cho bác, nhưng quan nóivới tôi rằng: Bần cư trung thị vô nhân vấn Phú tại sơn làm hữu khách tầm Ông tôi làm nên thì bát vạn tri âm Khi sang trọng thì tam thiên bằng hữu Ông tôi nói rằng: không phải bạn!...Chẳng qua là anh thấy người sang anh bắt quàng làm họ đó thôi. Nhưng tôi nghĩ cái tình anh với tôi, tôi hỏi thật: anh có đói không? LƯU BÌNH – Bẩm cậu, đói ạ. HẦU PHÒNG – Đói vừa, đói quá hay đói lưng lửng LƯU BÌNH – Đói thật ạ! HẦU PHÒNG – Vậy thì anh ngồi đây, để tôi vào xem có còn cơm tôi đem ra tôi cho. Đừng có mong, tôi vấp lại đổ cơm đấy (lấy cơm ra) cơm đây! LƯU BÌNH – Thương ơi, Thuở hàn vi, nhường cơm sẻ áo Bạn bút nghiên, một sách một đèn Tưởng cơm sung nhớ đến lúc cháo dền Ngồi nghĩ đến hai hàng lã chã Chẳng ngờ ra lòng chim dạ cá Thầy mâm cơm nghĩ cực trăm chiều Bát cơm hẩm, quả cà meo Xót ruột lắm ăn làm sao được Thà nhịn đói cầm hơi bát nước Dạ nhưng nhưng quân tử lòng không Sách có chữ rằng, quân tử cố cùng Công đâu giận người dưng nước lã ! (Theo Hà Văn Cầu, Tuyển tập chèo cổ, NXB Văn hóa, 1976, tr.120-128) Trả lời câu hỏi: Câu 1. Nêu nội dung của đoạn trích trên? Câu 2. Thấy bạn đến, Dương Lễ đã làm gì? Câu 3. Theo anh/chị vì sao Dương Lễ lại yêu cầu hầu phòng sỉ nhục, đuổi bạn đi?
- Câu 4. Lời độc thoại “Thuở hàn vi, nhường cơm xẻ áo/Bạn bút nghiên, một sách một đèn/Tưởng cơm sung nhớ đến lúc cháo dền/Ngồi nghĩ đến hai hàng lã chã/Chẳng ngờ ra lòng chim dạ cá/ Thấy mâm cơm nghĩ cực trăm chiều” thể hiện tâm trạng gì của Lưu Bình? Câu 5. Theo anh/chị, hành động của Dương Lễ cho vợ bé đi nuôi bạn ăn học thành tài có mạo hiểm không? Vì sao? Câu 6. Ngoài Lưu Bình Dương Lễ, trong văn học và đời sống anh/ chị còn biết đến những đôi bạn nào, tình bạn nào đẹp? Hãy chia sẻ những hiểu biết về tình bạn ấy. ĐỀ 08 Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ngoài ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa. Nó giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm sạch sẽ và gọn gàng. Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là khi lớp rào bao quanh không còn làm họ vướng mắt nữa. Nhưng hễ có một cơn dông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào. Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mong manh như thế. Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước. Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.” [Theo A.L.Ghec-xen, 3555 câu danh ngôn, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1997] Câu 1: Nêu luận đề của văn bản. Câu 2: Xác định lí lẽ, bằng chứng được người viết sử dụng trong đoạn văn bản. Câu 3: Chỉ ra tác dụng của việc dùng phép so sánh trong văn bản trên. Câu 4: Nêu cách hiểu nội dung của câu Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước Câu 5: Theo quan điểm riêng của anh/ chị, cuộc sống riêng không biết đến điều gì xảy ra ở bên ngoài ngưỡng cửa nhà mình gây ra những tác hại gì? (Trả lời ít nhất 2 tác hại) Câu 6: Rút ra một thông điệp có ý nghĩa từ văn bản PHẦN 2: TỰ LUẬN Đề 1: Viết một bài luận với chủ đề: Nhìn rõ chính mình. Đề 2: Trong cuộc sống, có muôn vàn khó khăn thử thách, con người cần sống có tinh thần lạc quan. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của anh/chị về vấn đề này. Đề 3: Trì hoãn công việc là thói quen xấu của nhiều người hiện nay. Em hãy viết bài văn nghị luận thuyết phục mọi người từ bỏ thói quen này Đề 4: Viết một bài văn ngắn khuyên người khác từ bỏ thói quen chia sẻ tùy hứng trên các trang mạng xã hội. Đề 5: Anh/ chị hãy viết một bài văn ngắn đánh giá nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Uy lít xơ trở về. Đề 6: Anh/ chị hãy viết một bài văn ngắn đánh giá nội dung và nghệ thuật của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Đề 7: Viết bài văn nghị luận, trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề văn hóa truyền thống trong mối quan hệ với thế hệ trẻ ngày nay.
- ---------------------------------- Hết ----------------------------------

