Đề cương ôn tập kiểm tra giữa học kì II Ngữ văn Lớp 10 - Năm học 2024-2025
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập kiểm tra giữa học kì II Ngữ văn Lớp 10 - Năm học 2024-2025", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_kiem_tra_giua_hoc_ki_ii_ngu_van_lop_10_nam_h.pdf
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập kiểm tra giữa học kì II Ngữ văn Lớp 10 - Năm học 2024-2025
- Tổ Ngữ văn: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ II MÔN NGỮ VĂN – LỚP 10 Năm học: 2024 – 2025 A. KIẾN THỨC CƠ BẢN GIỮA HỌC KÌ II. I. VĂN BẢN ĐỌC: 1. Bài 6: Nguyễn Trãi – “ Dành còn để trợ dân này”. Văn Thể Phương Nội dung Nghệ thuật bản loại thức biểu đạt chính Tác gia Nghiên Thuyết - Khái quát về cuộc đời Rõ ràng, mạch lạc, tính hệ Nguyễn cứu minh và sự nghiệp văn thơ thống cao Trãi văn Nguyễn Trãi học Bình Chính Nghị - Là bản tổng kết về cuộc - Bố cục: Chặt chẽ, cân đối. Ngô luận luận kháng chiến vĩ đại, nêu - Câu văn, giọng văn linh đại cáo cao thắng lợi của dân tộc hoạt. - Khẳng định nhân dân ta - Ngôn ngữ, hình tượng có tinh thần nhân nghĩa phong phú, vừa cụ thể vừa và nền độc lập riêng của khái quát. mình. Bảo Thơ Biểu - Tâm hồn Nguyễn Trãi - Giọng điệu trữ tình, sâu kính Nôm cảm chan chứa tình yêu thiên lắng, bút pháp tả sinh động cảnh nhiên, yêu đời, yêu nhân - Thể thơ sáng tạo: Thất ngôn giới, dân, đất nước xen lục ngôn bài 43 - Ngôn ngữ thơ phong phú, đa dạng vừa có lớp từ Hán Việt vừa có lớp từ thuần Việt tạo nên vẻ đẹp vừa trang trọng vừa bình dị - Sử dụng các điển tích, điển cố Dục Thơ Biểu Bài thơ vẽ ra bức tranh - Tả cảnh ngụ tình Thúy chữ cảm sơn thủy nơi núi Dục - Hình ảnh thơ mĩ lệ sơn Hán Thúy đẹp tựa cảnh tiên - Hình ảnh ẩn dụ sóng đôi rơi cõi tục. Bài thơ vừa là nhau niềm say mê với thiên
- nhiên, vừa gợi nỗi lòng cảm hoài của Nguyễn Trãi 2. Bài 7: Quyền năng của người kể chuyện. Tình huống Chủ đề Nhân Ngôi kể - Điểm nhìn Văn bản truyện truyện vật Người cầm Gia-ve gặp Uy quyền Gia-ve, Ngôi thứ 3 - Điểm nhìn từ quyền khôi Giăng- Van không thuộc Giăng - người kể chuyện ngôi thứ phục uy quyền Giăng, hắn về cái ác, nó Van ba ẩn danh, đôi khi hoà - (Trích Những muốn chứng vĩnh viễn Giăng nhập với một nhân vật nào người khốn minh uy thuộc về đó trong truyện để nhìn và khổ) - Vích-to quyền của những trái tim miêu tả Huy-gô mình trong nhân đạo và tình thế tình yêu Phăng-tin sắp thương con lìa xa cõi đời người Dưới bóng Thanh trở về Những rung Thanh, hoàng lan - nhà sau nhiều cảm lắng sâu Nga Thạch Lam ngày xa cách, và tinh tế của gặp lại bà và Thanh trước cô hàng xóm những gì bình dị, thân quen . Một chuyện Câu nói đùa Nếu không Tôi, - Ngôi thứ nhất - Người kể đùa nho nhỏ - của nhân vật thành thật và Na-đi-a chuyện xưng tôi đây cũng An-tôn Sê- tôi trong một quyết đoán là nhân vật chính trong câu khốp lần trượt tuyết trong tình yêu chuyện có thể ta sẽ - Lúc đầu nhân vật tôi đứng phải ân hận vì trên ấn tượng chung của cả bỏ lỡ tình yêu 2 người để nhìn về kỉ niệm - Giây phút cuối của cuộc chia tay, nhân vật tôi đứng trên điểm nhìn cá nhân để nhìn về thực tế phũ phàng II. THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT: STT Nội dung thực Ý nghĩa của hoạt động thực hành hành
- - Sử dụng từ Hán Việt: Vấn đề sử dụng từ Hán Việt là vấn đề hết sức tế nhị. Trong các từ Hán Việt và từ thuần Việt đồng nghĩa, từ Hán Việt có sắc thái trừu tượng, trang trọng, tao nhã, cổ kính còn từ thuần Việt mang sắc thái cụ thể, gần gũi. Vì thế người ta dùng từ Thực hành sử Hán Việt để: 1 dụng từ Hán + Tạo sắc thái trang trọng, nghiêm trang, biểu thị thái độ tôn kính, Việt trân trọng, làm nổi bật ý nghĩa lớn lao của sự vật, sự việc. + Tạo sắc thái tao nhã, tránh thô tục, tránh gây cảm giác ghê sợ. + Tạo sắc thái cổ xưa, làm cho người đọc như được sống trong bầu không khí xã hội xa xưa Biện pháp chêm Biết cách nhận biết và nêu được tác dụng của biện pháp chêm xen, 2 xen, biện pháp biện pháp liệt kê. liệt kê III. VIẾT: STT Kiểu bài viết Yêu cầu của kiểu bài viết - Giới thiệu được vấn đề xã hội cần bàn luận. - Nêu rõ lí do lựa chọn và quan điểm cá nhân về vấn đề xã hội cần bàn luận. Viết văn bản - Chứng minh quan điểm của mình bằng hệ thống luận điểm chặt 1 nghị luận về một chẽ, hợp lí, sử dụng các lí lẽ thuyết phục và bằng chứng chính xác, vấn đề xã hội đầy đủ. - Biết sử dụng yếu tố biểu cảm để tăng sức thuyết phục của văn bản. - Khẳng định ý nghĩa của vấn đề cần bàn luận. - Giới thiệu được những thông tin khái quát về tác giả, tác phẩm. - Nêu được nhận xét khái quát về giá trị của tác phẩm. Viết văn bản - Nêu được nét riêng về chủ đề của tác phẩm. nghị luận phân 2 tích, đánh giá - Phân tích được mối quan hệ gắn kết giữa chủ đề và các nhân vật một tác phẩm trong tác phẩm (chủ đề đã chi phối sự lựa chọn, miêu tả nhân vật truyện như thế nào, nhân vật đã phát triển và khơi sâu chủ đề ra sao,...) - Đánh giá khái quát về thành công hay hạn chế của tác phẩm nhìn từ mối quan hệ giữa chủ đề và nhân vật.
- - Phát biểu được tác động của chủ đề tác phẩm, nhân vật trong tác phẩm đối với bản thân. - Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ (tác giả, thời điểm ra đời, nơi xuất bản, đánh giá chung của dư luận, ) và nêu vấn đề chính sẽ được tập trung phân tích trong bài viết. - Phân tích, đánh giá mạch ý tưởng, cảm xúc của nhân vật trữ tình (nhân vật trữ tình muốn biểu đạt điều gì, thông qua hình tượng nào, Viết văn bản với cái nhìn và thái độ ra sao, ). nghị luận phân - Phân tích, đánh giá sự phát triển của hình tượng chính (qua các 3 tích, đánh giá khổ, đoạn trong bài) và tính độc đáo của những phương tiện ngôn một tác phẩm từ đã được sử dụng (từ ngữ, cách gieo vần, ngắt nhịp, các biện pháp thơ tu từ, ). - Phân tích, đánh giá nét hấp dẫn riêng của bài thơ so với những sáng tác khác cùng đề tài, chủ để, thể loại (của chính nhà thơ hoặc của những tác giả khác). - Khẳng định giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ, ý nghĩa của bài thơ đối với người viết bài nghị luận. IV. NÓI VÀ NGHE - Những nội dung nói và nghe đã được thực hiện với các bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập hai: + Thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau. + Thảo luận về một vấn đề văn học có ý kiến khác nhau. B. ĐỀ MINH HỌA: Môn: Ngữ văn 10 Thời gian làm bài: 90 phút I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm) Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi nêu dưới: Thuật hứng (bài 24) Nguyễn Trãi Công danh đã được hợp (1) về nhàn, Lành dữ âu chi (2) thế nghị (3) khen.
- Ao cạn vớt bèo cấy muống, Đìa thanh (4) phát cỏ ương sen. Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc (5), Thuyền chở yên hà (6) nặng vạy (7) then. Bui (8) có một lòng trung lẫn (9) hiếu, Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen (10). (Trích Luận đề về Nguyễn Trãi, NXB Thanh niên, 2003, tr.87) (1)Hợp: tiếng cổ có nghĩa là đáng, nên (2)Âu chi: lo chi (3)Nghị: dị nghị, ở đây hiểu là chê (4)Đìa thanh: đìa là vũng nước ngoài đồng. Thanh là trong (5)Đầy qua nóc: Đầy quá nóc nhà, nóc kho (6)Yên hà: khói, ráng (7)Vạy: oằn, cong. Nặng vạy then: chở nặng làm thang thuyền oằn xuống (8)Bui: tiếng cổ, nghĩa là chỉ có (9)Lẫn (hoặc lễn, miễn): tiếng cổ nghĩa là với hoặc và (10)Mài chăng khuyết : mài cũng không mòn, nhuộm cũng không đen. Ý nói lòng trung hiếu bền vững. Câu 1: Xác định thể loại của bài thơ trên? Câu 2: Cuộc sống nơi thôn quê được nhà thơ tái hiện qua những hình ảnh nào trong bài thơ? Câu 3: Phân tích tác dụng của biện pháp đối trong hai câu : Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc, Thuyền chở yên hà nặng vạy then.
- Câu 4: Anh (chị) hãy nhận xét về vị trí và giá trị của các câu lục ngôn trong bài? Câu 5: Anh (chị) hãy chỉ ra hai nét tương đồng về nội dung của hai bài thơ “Thuật hứng”(bài 24) và “Bảo kính cảnh giới”(bài 43)? Câu 6: Anh (chị) hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 đến 7 dòng) cảm nhận về một nét đẹp tâm hồn của nhà thơ Nguyễn Trãi qua bài thơ Thu“ ật hứng”(bài 24). II. PHẦN VIẾT (5,0 điểm) Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề được sống là chính mình của thế hệ trẻ trong xã hội ngày nay. HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ II Môn: NGỮ VĂN 10 Thời gian làm bài: 90 phút Nội dung Điểm Đọc hiểu 5,0 Thể loại: Thơ Nôm Đường luật * Hướng dẫn chấm: 0,75 - HS nêu: Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn vẫn cho 0,25 điểm - HS trả lời sai: Không cho điểm. HS nêu các hình ảnh: - Ao cạn - Muống - Sen 0,75 - Đìa thanh - Thuyền * Hướng dẫn chấm:
- - Học sinh liệt kê được 3/5 hình ảnh: 0,5 điểm - Học sinh liệt kê được 2 hình ảnh: 0,25 điểm - Học sinh liệt kê được 1 hình ảnh: 0,0 điểm. - Học sinh không liệt kê: Không cho điểm + Đối: phong nguyệt-yên hà; đầy qua nóc-nặng vạy then + Tác dụng của biện pháp tu từ đối trong hai câu thơ: - Làm nổi bật tâm hồn phóng khoáng, tự do, tự tại, hòa mình vào thiên nhiên và tận 0,5 hưởng trọn vẹn nó - Thể hiện trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ - Tạo nhịp điệu hài hòa cho câu thơ * Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án: 1.0 điểm - Học sinh trả lời ý đầu: 0,25 điểm; ba ý tác dụng mỗi ý 0,25 điểm - Chấp nhận cách lí giải tương đương, GV căn cứ vào nội dung trả lời của học sinh để cho điểm từ 0,5 đến 0,75 điểm. Vị trí và giá trị của câu lục ngôn - Vị trí: 0,25 + Câu thực: Ao cạn vớt bèo cấy muống, Đìa thanh phát cỏ ương sen. + Câu kết: Mài chăng khuyết, nhuôm chăng đen
- - Giá trị: 0,75 + Phá vỡ kết cấu thơ Đường: tạo tiết tấu chậm rãi, tạo điểm nhấn cảm xúc cho hai câu thơ + Đặc tả cuộc sống nơi thôn quê tự do, tự tại, thích gì làm nấy với những công việc của một lão nông thực thụ + Khẳng định điểm kết tụ của hồn thơ Nguyễn Trãi là ở tư tưởng yêu nước thương dân => Là sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trãi trong việc hiện đại hóa thơ Nôm Đường luật - * Hướng dẫn chấm: - Hs trả lời như đáp án: mỗi ý cho 1.0 điểm. - Hs đưa ra được vị trí: 0,25 điểm - Học sinh chỉ ra vị trí, nêu được 1 giá trị:0,75 điểm - Chấp nhận cách diễn đạt khác của học sinh, Gv căn cứ nội dung trả lời để cho điểm: 0,25 đến 0,75 điểm. - HS không chỉ ra được: không cho điểm. Hs chọn hai trong các gợi ý sau: - Cùng miêu tả cảnh thiên nhiên bình dị, mộc mạc và tươi đẹp chốn thôn quê => Qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên và cuộc sống của nhà thơ - Coi trọng lối sống an nhiên, tự tại, hòa mình vào thiên nhiên - Điểm kết tụ của cả hai bài thơ đều ở tấm lòng trung hiếu, yêu nước thương dân - 1,0 - * Hướng dẫn chấm: - Hs nhận xét được 2 nét tương đồng như đáp án: mỗi ý cho 0,5 điểm. - Hs đưa ra được 1 nét tương đồng: 0,5 điểm - Chấp nhận cách diễn đạt khác của học sinh, Gv căn cứ nội dung trả lời để cho điểm: 0,25 đến 0,75 điểm. - HS không chỉ ra được: không cho điểm.
- Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi được thể hiện xuyên suốt bài thơ, HS chọn 1 trong các vẻ đẹp sau và phân tích: - Đẹp ở việc nhà thơ chọn cho mình lối sống thanh nhàn chốn thôn quê - Nhà thơ sống ung dung, tự do, tự tại, mặc kệ khen chê, lành dữ=> con người liêm khiết, thanh cao không ràng buộc bởi danh lợi phù phiếm - Ông hòa mình vào thiên nhiên, làm những công việc chân tay của một lão nông thực 1,0 thụ - Trí tưởng tượng phong phú - Dù khi làm quan hay về quê ở ẩn vẫn một lòng trung hiếu với dân với nước + Lí giải + Sắp xếp được hệ thống ý theo đặc điểm bố cục của đoạn văn. II. PHẦN VIẾT 5,0 a. Đảm bảo cấu trúc của bài văn nghị luận Mở bài: giới thiệu được vấn đề; Thân bài: triển khai được vấn đề; Kết bài: khái quát được 0,25 vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: 0,5 c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm 1. Giải thích “ Sống là chính mình” là sống đúng với tính cách, con người, suy nghĩ, sở thích của mình; Sống thật với những gì tự nhiên vốn có, không gò ép, không áp đặt, không sống để làm vui lòng hay chiều theo ý của người khác. 2. Ý nghĩa của việc sống là chính mình + Xã hội ngày càng phức tạp, để sống là chính mình không phải chuyện dễ dàng. Chúng ta thường bị đầu hàng trước những nỗi sợ hãi, bị mê hoặc bởi những cám dỗ hay thiếu 3,0 bản lĩnh, không có quan điểm rõ ràng, thích chạy theo số đông, không muốn làm mất lòng người khác... + Nếu không được sống là chính mình thì chúng ta sẽ chỉ biết sống một cách gượng ép, hôm nay giống người này, ngày mai giống người kia, hôm nay theo ý người này, ngày mai theo ý người khác... Như vậy, ta sẽ mãi không tìm được lối đi riêng. + Đến lúc tuổi trẻ qua đi, hoặc đã quá mệt mỏi khi phải gồng mình lên sống theo ý người khác, chúng ta sẽ thấy mệt mỏi, chán nản và thất vọng, và chắc chắn sẽ phải -
- sống trong sự tiếc nuối vì đã không sống là chính mình. 2. Làm thế nào để sống là chính mình? + Phải xác định rõ: bản thân cần gì, mong muốn gì, mục tiêu trong cuộc sống là gì để cố gắng theo đuổi, ra sức học tập để đạt được + Chúng ta phải xây dựng, học tập, rèn luyện cho mình một cái tâm vững vàng, một trí tuệ sắc sảo, một nền kiến thức vững vàng, tự hình thành cho mình những kỹ năng sống, những quan điểm sống rõ ràng. + Không chạy theo số đông, không mù quáng tin tưởng, không sống theo ý người khác, cũng không nên ích kỉ chỉ vì bản thân. 3. Mở rộng: - Sống là chính mình không đồng nghĩa với sống bảo thủ, lập dị - Sống là chính mình không đồng nghĩa với sống tách biệt, ích kỉ d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai ít nhất được 3 luận điểm để thể hiện quan điểm của cá nhân. 0,5 - Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục, lí lẽ xác đáng, dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp đ. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo những quy tắc chính tả về dùng từ, đặt câu. 0,25 e. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận. 0,5 Tổng điểm 10,0 C. ĐỀ LUYỆN TẬP: PHẦN 1: ĐỌC HIỂU ĐỀ 1: Đọc văn bản: MẠN THUẬT (Bài 5) Nguyễn Trãi Sơn thuỷ nhàn chơi phận khó khăn, Cửa quyền hiểm góc ngại chồn chân. Say minh nguyệt, trà ba chén, Thích thanh phong, lều một gian. Ngỏ cửa nho, chờ khách đến, Trồng cây đức, để con ăn.
- Ðược thua phú quý dầu thiên mệnh, Chen chúc làm chi cho nhọc nhằn? (Trích Thơ quốc âm Nguyễn Trãi, Bùi Văn Nguyên biên khảo, chú giải, giới thiệu, NXB Giáo dục, 2003, tr.50) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ nào? Câu 2. Chỉ ra các hình ảnh thiên nhiên xuất hiện trong văn bản. Câu 3. Chỉ ra những từ ngữ diễn tả trực tiếp cảm xúc của nhân vật trữ tình trong hai câu thơ sau: Say minh nguyệt, trà ba chén, Thích thanh phong, lều một gian. Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ Trồng cây đức, để con ăn. Câu 5. Anh/Chị hiểu như thế nào về hai câu thơ cuối? Ðược thua phú quý dầu thiên mệnh, Chen chúc làm chi cho nhọc nhằn? Câu 6: Anh/ chị hãy viết một đoạn văn ( khoảng 5 đến 7 dòng) cảm nhận về vẻ đẹp con người Nguyễn Trãi qua văn bản ở phần đọc hiểu. ĐỀ 2. Đọc văn bản sau: ( ) Bữa cơm ngon lành quá. Tâm ngồi ăn dưới con mắt hiền từ và mến thương của mẹ. Các em cô quây quần cả chung quanh, hỏi chuyện chợ búa của chị. Tâm ngắm nghía các nét mặt xinh xẻo, những con mắt ngây thơ lóng lánh dưới mái tóc tơ của các em: cô thấy lòng đầm ấm và tự kiêu, lòng người chị chịu khó nhọc để kiếm tiền nuôi các em ăn học. Cô hỏi han sách vở của thằng Lân và thằng Ái, học lớp 3 ở trường làng. Ngày trước, thời còn sung túc, cô cũng đã cắp sách đi học, và về nhà lại được ông Tú dạy thêm chữ Nho. Nhưng đã lâu, cô rời bỏ quyển sách để bước chân vào cuộc đời rộng rãi hơn, khó khăn và chặt chẽ. Buôn bán bây giờ mỗi ngày một chật vật, bởi cô ít vốn. Tất cả gánh hàng của Tâm chỉ đáng giá hai chục bạc. Giá nàng có nhiều tiền để buôn vải bán các chợ như Liên - Thôi, các em đi ngủ đi, mai còn dậy sớm mà đi học chứ. Lân cười, trả lời chị: - Mai chủ nhật cơ mà, chị quên rồi à? Tối nay em thức khuya để nói chuyện với chị. Nhưng một lát sau, trong căn nhà yên tĩnh, chỉ còn Tâm và bà Tú ngồi trên phản: cô kiểm điểm và xếp đặt lại các thứ hàng để mai đi phiên chợ Bằng chính. Những thứ hàng nho nhỏ, khác nhau và xinh xắn: cuộn chỉ, bao kim, hộp bút, cúc áo, giấy lơ, một trăm thứ lặt vặt qua lại trên ngón tay nhỏ bé của thiếu nữ, vừa quý báu lại vừa ít ỏi. Mỗi thứ đối với Tâm có một linh hồn riêng, và cô hàng lờ mờ đoán hiểu trong thâm tâm những khó nhọc và công của đã làm thành chúng. Tâm đã thêm vào vài thức hàng mới, bắt đầu
- bán được ở chợ: phấn xoa mặt, dầu bôi tóc, và son thoa môi. Cô ngắm nghía trên tay cái ống sáp con bằng đồng – hào rưỡi một cái – đựng một chất đỏ thơm làm thắm tươi môi các thiếu nữ ở trên tỉnh. Đôi khi trong buổi chợ Tâm đã được thấy một vài cô gái tỉnh về quê, da trắng, môi đỏ, lịch sự và sang trọng. Có lần, một đêm khuya, Tâm đã lấy sáp bôi lên môi mình và ngắm trộm bóng trong chiếc gương tròn nhỏ Cô Ba. Cô hơi thẹn thấy bóng mình trong đó, với đôi môi đỏ như sẫm máu - Độ này, hàng có bán được không, con? - Thưa u, cũng khá ạ. Chị Liên bán vải cũng chẳng đẹp bằng. Tâm biết mình xinh nhất chợ. Bọn con trai thường hay quanh quẩn chỗ cô ngồi và buông lời chòng ghẹo. Nhưng cô không để ý: Tâm thấy vững vàng ở giá trị lòng cao quý của mình. Nàng đã đảm đang nuôi cả một nhà, với lại, trừ phi là cô gái hư không kể, còn ai ở địa vị nàng cũng phải tảo tần buôn bán như thế. Làm việc, đối với Tâm, là cái lệ chung của người ta. Cô thấy chung quanh toàn những người đàn bà chịu khó làm ăn vất vả để nuôi chồng, nuôi con. Không bao giờ Tâm nghĩ cho mình, cho cuộc đời riêng của cô. Trong nhà đã ngủ yên tĩnh cả rồi. Trên án thư, bên cạnh ngọn đèn hoa kì, chồng sách và cái ống bút của Lân, Ái che khuất ánh sáng. Các em nàng! Những đứa em thông minh và ngoan ngoãn quá. Không biết nàng có tảo tần mãi được để kiếm tiền mua giấy bút cho chúng ăn học không? Tâm mơ màng nghĩ đến sự thành công của các em sau này: đỗ đạt rồi đi làm trên tỉnh giúp thầy mẹ. Nhà nàng lại được sung túc và mát mặt như xưa. Tất cả những nỗi lo lắng lui đi và tâm hồn giản dị của thiếu nữ được nghỉ ngơi yên tĩnh. ( ) (Trích truyện ngắn Cô hàng xén, Thạch Lam) Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 6: Câu 1. Xác định ngôi kể của đoạn trích? Câu 2. Tìm chi tiết miêu tả suy nghĩ của Tâm khi “ngắm nghía các nét mặt xinh xẻo, những con mắt ngây thơ” của các em cô trong bữa cơm? Câu 3. Xác định phép tu từ trong câu văn sau “Cô ngắm nghía trên tay cái ống sáp con bằng đồng – hào rưỡi một cái – đựng một chất đỏ thơm làm thắm tươi môi các thiếu nữ ở trên tỉnh”. Câu 4. Các câu văn sau giúp em hiểu gì về hoàn cảnh của nhân vật Tâm? “Ngày trước, thời còn sung túc, cô cũng đã cắp sách đi học, và về nhà lại được ông Tú dạy thêm chữ Nho. Nhưng đã lâu, cô rời bỏ quyển sách để bước chân vào cuộc đời rộng rãi hơn, khó khăn và chặt chẽ.” Câu 5. Anh/chị có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả nhân vật của Thạch Lam trong đoạn trích? Câu 6: Anh/ chị hãy viết đoạn văn ( khoảng 5 đến 7 dòng) trình bày cảm nhận về một vẻ đẹp của nhân vật Tâm trong đoạn trích. ĐỀ 3 Đọc văn bản sau:
- Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikôlai1 có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào vali, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài – đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại – đó là con trai anh ta. – Porphiri đấy à? – anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. – Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi! – Trời! – anh gầy sửng sốt. – Misa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế? Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị. – Cậu ạ, – anh gầy bắt đầu nói sau khi hôn xong – Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy Đây, vợ mình đây, Luida, nguyên họ là Vanxenbắc, theo đạo Luyte Còn đây là con trai mình, Naphanain, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây. Naphanain ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống. – Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! – anh gầy nói tiếp – À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gêrôxtrát2 vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là Ephian3 vì mình hay mách. Hô hô Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Naphanain! Con lại gần bác chút nữa nào Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Vanxenbắc theo đạo Luyte Naphanain suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố. – Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? – anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. – Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ? – Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay “Xtanixláp”4. Lương lậu chẳng đáng là bao nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. 1 Tuyến đường sắt Nikôlai – đường sắt nối liền Pêtérburg (nay là Lêningrát) và Maxcơva, được gọi để kỷ niệm Hoàng đế Nga Nikôlai I (1796-1855). 2 Gêrôxtrát – người Hy Lạp, năm 356 trước Công nguyên đã đốt đền Áctêmiđa Ephecxcaia để tên mình trở thành bất tử. 3 Ephian (khoảng 500 đến 461 trước Công nguyên) – nhà hoạt động chính trị của Aten thời cổ. Năm 480 trước Công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phennôpinxki. Toán dân binh Xpácta ở Hy Lạp cổ bảo vệ khe núi này, đã hy sinh một cách anh hùng. 4 Mề đay “Xtanixláp” – thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.
- Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không? – Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, – anh béo nói. – Mình là viên chức bậc ba rồi có hai mề đay của Nhà nước. Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm Cả mấy thứ vali, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Naphanain thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại – Dạ, bẩm quan trên, tôi tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn nghĩa là bạn từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế. Hì hì hì. – Thôi, cậu đừng nói thế đi! – anh béo cau mặt. – Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ – việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế. – Dạ bẩm quan Quan lớn dạy gì kia ạ – anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn. – Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Naphanain và vợ là Luida, theo đạo Luyte đấy ạ Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy. Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Naphanain kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống. Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị. (Anh béo và anh gầy, An-tôn Sê-khốp, in trong Tuyển truyện ngắn An-tôn Sê-khốp, NXB Văn học, Hà Nội, 2001, Tr.101-102) Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 6: Câu 1. Văn bản trên chủ yếu được kể lại từ điểm nhìn của ai? Câu 2. Xác định chủ đề của văn bản. Câu 3: Những chi tiết nào khi mới gặp nhau ở sân ga cho thấy tình cảm thân thiết của anh béo và anh gầy? Câu 4. Lí do nào khiến cho “anh gầy” thay đổi thái độ đối với “anh béo”? Câu 5. Chỉ ra những đặc điểm nổi bật của nhân vật “anh gầy” trong văn bản? Câu 6. Từ văn bản trên, anh/ chị có suy nghĩ gì về thói xu nịnh trong cuộc sống? (Viết đoạn văn từ 5 đến 7 dòng) ĐỀ 4 Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: MỘ XUÂN TỨC SỰ
- Phiên âm Nhàn trung tận nhật bế thư trai, Môn ngoại toàn vô tục khách lai. Ðỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão, Nhất đình sơn vũ luyện hoa khai. Dịch nghĩa: Nhàn rỗi suốt ngày đóng cửa phòng sách Ngoài cửa vắng khách tục đến Trong tiếng đỗ vũ kêu ý chừng xuân đã muộn Cả một sân hoa xoan nở dưới mưa phùn. Dịch thơ: Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn Khách tục không ai bén mảng gần Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn Ðầy sân mưa bụi nở hoa xoan. Bản dịch của Khương Hữu Dụng (Nguồn: Thơ văn Nguyễn Trãi, NXB Giáo dục, 1980) Câu 1. Anh/chị hãy ácx định thể thơ của bản phiên âm? Câu 2. Chỉ ra loài hoa, âm thanh xuất hiện trong bài thơ? Câu 3. Nêu cảm nhận chung về bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong bài thơ? Câu 4. Khái quát tâm trạng của nhân vật trữ tình? Câu 5. Nhận xét về vẻ đẹp tâm hồn nhân vật trữ tình trong bài thơ? Câu 6. Từ bài thơ, anh (chị) suy nghĩ như thế nào về lối sống gắn bó, hòa hợp với tự nhiên? ĐỀ 5 Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: LẠI THƯ TRẢ LỜI PHƯƠNG CHÍNH (Phương Chính gửi thư cho ta, cho nên có thư đáp lại) Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu. Chỉ nhân nghĩa có gồm đủ thì công việc mới xong xuôi. Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội(1), kỳ thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên. Nhân nghĩa mà lại thế ư? Nay ở nước mày, dân oán thần giận, kế tiếp đại tang(2), thế mà đã không biết tự xét lỗi mình, lại còn cùng binh độc vũ(3), cam lòng xâm lược phương xa, khiến cho sĩ tốt phơi thây, nhân dân lầm bụi. Ta e mối lo của họ Quý không phải ở nước Chuyên-du, mà ở trong tiêu tường(4) vậy. (Trích“Quân trung từ mệnh tập” rút từ “Nguyễn Trãi toàn tập”, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976)
- Chú thích: (1) Điếu dân phạt tội nghĩa là thương dân sống khổ mà đánh kẻ có tội để cứu dân. Nhà Minh giả danh đánh kẻ thoán nghịch là họ Hộ (cha con Hồ Quý Ly), phù lập hộ Trần, mà đem quân sang chiếm nước ta (2) Đại tang, theo tục là chỉ tang cha mẹ, nhưng lời chú ở sách Chu lễ thì đại tang là tang nhà vua, hoàng hậu và thế tử. “Kế tiếp đại tang” ở đây là nói tang vu Minh; tháng 8 năm 1424 Minh Thành-tổ chết, thái tử là Cao Xý lên nối ngôi tức vua Minh Nhân-tông; tháng 7 năm 1425 Minh Nhân-tông lại chết, thái tử là Chiêm Cơ lên nối ngôi tức vua Minh Tuyên-tông. (3) Cùng binh độc vũ: sính dùng vũ lục, đánh nhau không thôi. (4) Tiêu tường: tiêu là nghiêm kính, tường là cái bình phong xây ở bên trong cổng. Theo lễ xưa, vua tôi tiếp kiến nhau, đến chỗ bình phòng thì càng nghiêm kính, vì thế mới gọi là tiêu tường. Thường dùng tiêu tường chỉ bên trong. Sách Luận ngữ, Khổng tử có nói: “Ngô khủng Quý tôn chi ưu, bất tại Chuyên- du, nhi tại tiêu tường chi nội dã” (Ta e ốm i lo của họ Quý tôn không ở nước Chuyên-du, mà ở nơi tiêu tường vậy). Ý nói mối lo không ở bên ngoài mà lại ở bên trong. Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích? Câu 2. Theo Nguyễn Trãi, cái gốc của việc lớn, công to là gì? Câu 3. Liệt kê các tội ác mà giặc Minh gây ra cho nhân dân ta được Nguyễn Trãi thể hiện trong văn bản? Câu 4. Phân tích tác dụng của câu hỏi tu từ mà Nguyễn Trãi sử dụng trong văn bản? Câu 5. Nhận xét về cách triển khai lí lẽ và bằng chứng của văn bản. Câu 6. Từ văn bản và các kiến thức đã học về văn bản nghị luận của Nguyễn Trãi, em hãy nêu nhận xét về nghệ thuật văn chính luận Nguyễn Trãi. ĐỀ 6 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Khi trời vừa hửng sáng thì Giôn-xi, con người tàn nhẫn, lại ra lệnh kéo mành lên. Chiếc lá thường xuân vẫn còn đó. Giôn-xi nằm nhìn chiếc lá hồi lâu. Rồi cô gọi Xiu đang quấy món cháo gà trên lò hơi đốt. “Em thật là con bé hư, chị Xiu thân yêu ơi !”, Giôn-xi nói: “Có một cái gì đấy đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội. Giờ chị có thể cho em xin tí cháo và chút sữa pha ít rượu vang đỏ và – khoan – đưa cho em chiếc gương tay trước đã, rồi xếp mấy chiếc gối lại quanh em, để em ngồi dậy xem chị nấu nướng (Trích “Chiếc lá cuối cùng”, O. Hen-ri, SGK Ngữ văn 8, tập 1, trang 88) Câu 1. Nhân vật nào xuất hiện trong đoạn trích? Câu 2. Tìm thành phần chêm xen trong câu văn: Khi trời vừa hửng sáng thì Giôn-xi, con người tàn nhẫn, lại ra lệnh kéo mành lên.
- Câu 3. Anh (chị) hiểu như thế nào về cụm từ “con người tàn nhẫn” trong câu văn: “Khi trời vừa hửng sáng thì Giôn-xi, con người tàn nhẫn, lại ra lệnh kéo mành lên”? Câu 4. Hành động “ra lệnh kéo mành lên” khi trời vừa hửng sáng thể hiện tâm trạng gì của Giôn-xi? Câu 5. Theo anh(chị) hình ảnh “Chiếc lá thường xuân vẫn còn đó” có ý nghĩa gì? Câu 6. Bài học ý nghĩa nhất với anh/chị qua câu chuyện trên là gì? Lí giải bài học đó. ĐỀ 7 Đọc văn bản sau: Khi nhận được lệnh trở ra miền bắc để cùng các họa sĩ ngoài Hà Nội chuẩn bị một cái triển lãm ở nước ngoài, thì tất cả tranh và ký họa của tôi vẽ trong mấy năm đã chất lên đầy một cái sạp lán giữa rừng căn cứ. Tôi lọc lấy chỉ độ một phần ba, vậy mà trên đường tôi đi ra, các đồng chí phụ trách các trạm giao liên trên từng chặng từng chặng một, phải thay phiên nhau cử một chiến sĩ của trạm đi theo "thồ" tranh cho tôi. Hôm đó, đoàn chúng tôi đi qua một vùng trên đất bạn nổi tiếng nhiều biệt kích, lại rất đói, cũng là cái "rốn" của bệnh sốt rét. Chúng tôi được nghỉ lại một ngày để dưỡng sức, lán của nhóm khách đi đường chúng tôi dựng ngay trên đầu một cái lán khác của anh em chiến sĩ trong trạm. Buổi trưa, tôi đang ngồi vẩn vơ ghi mấy cái dáng hòn đá, thân cây trước lán nghỉ của mình, thì trông thấy một người chiến sĩ nước da xam xám và cặp môi thâm sì đang leo mấy bậc dốc từ lán dưới đi lên. Người chiến sĩ đi thẳng đến trước mặt tôi ngồi xuống xem tôi vẽ. Rồi sau mấy câu chuyện làm quen, người chiến sĩ tha thiết thỉnh cầu tôi vẽ cho anh một bức chân dung(*). Tôi bỗng thấy tự ái. Tôi là một họa sĩ, chứ đâu phải một anh thợ vẽ truyền thần (!) Tôi từ chối khéo bằng cái mặt lạnh lùng. Người chiến sĩ tỏ vẻ phật ý, anh nhìn vào cái mặt lạnh lùng của tôi một thoáng rồi lẳng lặng quay lưng lại tôi, chậm rãi đi xuống dưới những cái bậc dốc. Sáng hôm sau, chúng tôi lại lên đường. Thật một điều không ngờ, chẳng biết ai xui khiến thế nào mà chính người chiến sĩ trưa hôm qua lại "thồ" tranh cho tôi, chính lại là anh chứ không phải một người nào khác. Thật là phiền cho tôi quá! Vừa ra khỏi trạm, người dẫn đường đã báo cho khách biết trên dọc đường phải vượt thật nhanh khi leo một con dốc, sau đó là một con suối rất trống trải, đã có một vài đoàn bị bọn biệt kích bắn lén hoặc máy bay thám thính phát hiện. Cái nghề đi đường rừng nó là như vậy, nói một chữ chung chung là đèo, dốc, suối... nhưng ở thực địa mặt mũi chúng chẳng chỗ nào giống chỗ nào cả. Đi đến quá trưa, chúng tôi gập lưng lại, lội qua một quả núi đất không dốc lắm, mọc đầy cỏ tranh đang trổ bông rất đẹp và lác
- đác có những hòn đá tai mèo. Những vỉa đá tai mèo mọc lởm chởm giữa cỏ tranh mỗi lúc một dày, và khi quả núi đổ sang sườn dốc bên kia thì chỉ có rặt đá tai mèo đen kịt, chúng tôi vừa thở dốc ra cả bằng mũi, bằng tai, năm ngón tay bịt chặt lấy chỏm đầu từng hòn đá một mà lần xuống. Ác thay cái bãi đá tai mèo nằm giữa khúc suối dưới chân núi. Có lẽ nó rộng đến năm trăm thước. Con suối chảy đến đấy thì phình rộng ra chảy lênh láng và réo lên ầm ầm trên một cái nền đá lởm chởm. Tuy đã được nghỉ một ngày nhưng sau khi leo qua được quả núi thì tôi đã thấm mệt. Tôi dò dẫm đi giữa khúc suối một cách vất vả quá, cứ dần dần bị tụt lại sau. Rồi chân tôi tự nhiên bị sỉa xuống một hẻm đá ngầm dưới nước. Tôi giơ hai tay lên trời chới với... Người chiến sĩ "thồ" tranh cho tôi đang đi phía trước, cách một quãng khá xa, vội vã quay lộn lại. Nếu anh không đến kịp có lẽ là tôi bị dòng suối cuốn đi. Anh cởi chiếc ba lô sau lưng cho tôi, khoác vào trước ngực mình. Anh đỡ lấy tôi, giúp tôi rút cái chân lên. Rồi dìu tôi đi. Tôi thở dốc. Mồ hôi vã ra như tắm. Hai mắt đổ đom đóm. "Đồng chí cố gắng lên - Người chiến sĩ vừa đi vừa động viên tôi - Tôi dìu đồng chí đi nhanh qua bên kia suối sẽ nghỉ. Nếu thằng L.19 đến, chúng mình cứ ngồi xuống. Nó chẳng thấy gì cả đâu!". Tôi không đủ sức theo kịp đoàn được nữa. Qua bên kia suối, người chiến sĩ lấy dầu con hổ bóp chân cho tôi, lúc ngồi nghỉ. Rồi bắt đầu từ đó, chỉ có hai người, anh và tôi, đi trong rừng. Tôi chỉ có thể đi người không. Người chiến sĩ vừa phải "thồ" đống tranh của tôi sau lưng (to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường) lại vừa phải mang thêm chiếc ba lô riêng của tôi trước ngực. Có lẽ tất cả đến sáu bảy chục cân. Mà người chiến sĩ có khỏe mạnh gì cho cam! Tôi không nói thì chắc các bạn cũng biết, ngay từ lúc người chiến sĩ đến gặp tôi để nhận mang cái bó tranh, tôi đã khó xử đến thế nào? Thế mà bây giờ, trên dọc đường, không những riêng cái đống tài sản của tôi mà cả chính tôi cũng đã trở thành một gánh nặng cho anh. Xưa nay tôi vẫn cho mình là một kẻ cũng biết tự trọng, và cũng biết suy nghĩ. Giá người chiến sĩ tỏ thái độ lạnh nhạt hoặc mặc xác tôi nằm lại một mình, tập tễnh đi một mình giữa rừng, thì tôi cũng thấy là cái lẽ phải. Xưa nay tôi vẫn quan niệm rằng: sống ở đời, cho thế nào thì nhận thế ấy. Cái cách cư xử của người chiến sĩ đối với tôi chỉ có thể giải thích bằng lòng độ lượng. Độ lượng? Thế nhưng tôi nhiều tuổi hơn? Tôi lại là một họa sĩ có tên tuổi? Xưa nay tôi chỉ mới thấy lòng độ lượng của kẻ trên đối với người dưới. Bây giờ đây thì chính tôi, một kẻ bề trên, đang được một người dưới tỏ ra độ lượng với mình.
- Tối ngày hôm đó, hai chúng tôi phải ngủ lại nửa đêm giữa rừng. Người chiến sĩ mắc võng cho tôi nằm rồi ôm súng ngồi gác bên cạnh. Nhưng làm sao mà ngủ được? Tôi đến ngồi bên anh, trên một phiến đá. Rừng đêm tối mò và đầy hăm dọa. "Tôi xin lỗi đồng chí về cái việc hôm qua... - tôi nói khẽ bên tai anh - Đến mai, thế nào tôi cũng phải vẽ đồng chí. Một bức, thật đẹp!". (Trích truyện ngắn Bức tranh, Nguyễn Minh Châu, Văn học trong nhà trường, NXB Văn học, 2010, tr 40-43) Chú thích: (*) Gia đình người chiến sĩ ngoài Bắc không hiểu vì sao lại nghe tin anh đã hi sinh. Không tiện đường gửi thư cũng như không có hiệu chụp ảnh, anh muốn nhờ người hoạ sĩ vẽ cho mình một bức chân dung để gửi về quê nhà báo tin cho gia đình biết mình vẫn còn sống. Câu 1. Xác định ngôi kể của đoạn trích. Câu 2. Khi người chiến sĩ nhờ vẽ một bức chân dung, thái độ của nhân vật “tôi” ra sao? Câu 3. Xác định thành phần chêm xen và tác dụng của thành phần này trong câu sau: Bây giờ đây thì chính tôi, một kẻ bề trên, đang được một người dưới tỏ ra độ lượng với mình. Câu 4. Nhận xét tình huống gặp gỡ giữa nhân vật “tôi” và người chiến sĩ “thồ” tranh. Câu 5. Nêu vai trò của yếu tố miêu tả và biểu cảm trong đoạn trích? Câu 6. Từ cách ứng xử của người lính trong đoạn trích, anh/chị hãy rút ra một thông điệp ý nghĩa cho bản thân và lí giải. PHẦN 2: LÀM VĂN Đề 1: Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận về vấn đề xã hội: Ứng xử văn minh trên không gian mạng. Đề 2: Lười biếng là một thói quen xấu của một số người hiện nay. Em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) để thuyết phục họ từ bỏ thói quen này. Đề 3: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về câu nói: Hãy sống như lửa cháy. Đề 4: Viết bài văn nghị luận về xu hướng bỏ phố về làng của một bộ phận người trẻ. Đề 5: Viết văn bản nghị luận (khoảng 600 chữ) về vấn đề: Thói vô trách nhiệm của các cá nhân trong xã hội hiện nay. Đề 6: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cảm thông và sẻ chia trong đời sống.
- Đề 7: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích chủ đề và vẻ đẹp của người lính thồ tranh trong đoạn trích truyện “Bức tranh” (Nguyễn Minh Châu) ở phần Đọc hiểu.

