Ngân hàng Đề thi Ngữ văn 10 - Năm học 2023-2024 (Có đáp án)

docx 14 trang Bảo Vy 23/07/2026 340
Bạn đang xem tài liệu "Ngân hàng Đề thi Ngữ văn 10 - Năm học 2023-2024 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxngan_hang_de_thi_ngu_van_10_nam_hoc_2023_2024_co_dap_an.docx
  • docxHDC NGÂN HÀNG ĐÊ NGỮ VĂN 10.docx

Nội dung tài liệu: Ngân hàng Đề thi Ngữ văn 10 - Năm học 2023-2024 (Có đáp án)

  1. NGÂN HÀNG ĐỀ NGỮ VĂN 10 NĂM HỌC 2023-2024 ĐỀ 1 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc văn bản sau: Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng Vua trên trời là Ngọc Hoàng có hai con gái đẹp. Ngọc Hoàng yêu quý hai nàng lắm nên cho các nàng hàng ngày luân phiên nhau đi xem xét mọi việc của hạ giới để báo lại cho nhà Trời. Cô gái đầu tên là Mặt Trời được ngồi kiệu hoa có bốn người khiêng. Bốn người này chia làm hai tốp: một tốp già và một tốp trẻ. Tốp các cụ già khiêng kiệu luôn luôn lo làm tròn phận sự, chăm chỉ vào công việc nên cô Mặt Trời thường đi một vòng rất nhanh. Còn tốp trẻ bản tính la cà nên những lần được phân công khiêng kiệu thường về muộn. Vì thế, mỗi lần Mặt Trời đi với tốp trẻ thì ngày dài, và đi với tốp già thì ngày lại ngắn. Mặt Trăng là cô em tính tình nóng nảy còn hơn cả cô chị. Sức nóng của cô đã làm hại cho người và muôn vật khá nhiều. Ấy thế mà cô vẫn cứ chỏng lỏn, đi đâu cũng sà vào khiến cho nhân dân vô cùng kinh hãi. Trần gian khổ sở vì cô Mặt Trăng, họ đã kêu ca rất nhiều, tiếng thấu lên Thượng giới khiến cho bà mẹ đã định lấy tro mà bôi lên mặt cô để giảm bớt sức nóng đi. Nhưng Ngọc Hoàng chiều con, nên không để cho vợ làm việc ấy. Bấy giờ ở dưới trần có một chàng trai tên là Quải. Quải là con mồ côi nhưng lại có một thân thể cực kỳ to lớn và sức khỏe tuyệt vời. Trước những hành động tai ác của cô Mặt Trăng, Quải quyết tâm trị cho một mẻ. Anh ta đón đường cô Trăng trên một đỉnh núi cao và trữ sẵn một đống cát thật lớn. Hôm ấy, cô Mặt Trăng vẫn quen thói cũ vừa đi vừa sà xuống để nhìn muôn vật, Quải chờ cho cô ta đến gần rồi bất thình lình bốc cát ném túi bụi vào mắt, vào mặt mũi cô. Cô Trăng đang rong chơi, bị tấn công đột ngột, nhắm mắt lại nhưng đất đã dính đầy mặt và chui cả vào trong mắt. Cô ta hốt hoảng vội vụt bay lên cao, lảng ra xa chỗ Quải đứng. Từ đó trở đi cô không dám sà xuống gần mặt đất nữa. Mặt mũi cô bị cát dính chặt nên không còn sáng được như xưa. Sau này tính tình của cô trở nên dịu dàng, hiền lành hơn, ở dưới trần ai cũng thích. Người ta nói mỗi lần cô ngoảnh mặt xuống nhân gian thì lúc đó là trăng rằm, cô quay lưng tức là ba mươi, mùng một, còn cô trở sang trái, sang phải tức là thời kỳ trăng hạ huyền hoặc thượng huyền. Còn những khi trăng quầng, ấy là lúc cát bụi trát mặt bị gió thổi bay tung ra. Lại nói chuyện chồng của hai nữ thần này. Đó là một con gấu rất to khoẻ. Không rõ gấu từ đâu đến và Ngọc Hoàng đã gả các cô con gái của mình cho gấu từ bao giờ. Chỉ biết rằng gấu rất hay ghen nên theo dõi sự đi lại của hai vợ mình rất chặt chẽ. Thỉnh thoảng, gấu lại đòi chung tình với một người. Lúc đó là lúc ở dưới trần gian thường gọi là nhật thực hay nguyệt thực. Gặp những ngày này, nhân gian lại phải đánh chiêng, đánh trống rầm rĩ để cho gấu sợ mà lui ra mau. Vì gấu làm như vậy thì có hại cho mùa màng và các nữ thần này cũng vì vậy mà xao nhãng công việc. (Theo Viện Văn học, Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập 1 : Thần thoại – truyền thuyết, NXB Giáo dục, 1999) Trả lời các câu hỏi : Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện? Câu 2. Liệt kê các sự việc được kể trong văn bản trên ? Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu sau: - Mặt Trăng là cô em tính tình nóng nảy còn hơn cả cô chị. Sức nóng của cô đã làm hại cho người và muôn vật khá nhiều. Ấy thế mà cô vẫn cứ chỏng lỏn, đi đâu cũng sà vào khiến cho nhân dân vô cùng kinh hãi. - Mặt mũi cô bị cát dính chặt nên không còn sáng được như xưa 1
  2. Câu 4. Nhận xét cách cách lí giải của tác giả dân gian về hiện tượng nhật thực và nguyệt thực trong câu chuyện? Câu 5. Qua văn bản trên, tác giả dân gian đã thể hiện được ước mơ và khát vọng của con người thời xưa. Anh (chị) thấy ước mơ và khát vọng đó còn có ý nghĩa đối với cuộc sống hôm nay không? Vì sao? II. PHẦN VIẾT (6.0 điểm) Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) làm rõ một vẻ đẹp tự nhiên của mảnh đất cố đô Huế qua văn bản sau: MIỀN CỎ THƠM [ ]Mùa xuân có thể định nghĩa là mùa mà toàn bộ cây nở thành hoa. Những ngọn đồi phía tây nam Huế bừng lên trong hương hoa cỏ, khiến người ta không thể ngồi yên cúi mặt lên trang sách. Hương cỏ tràn vào thành phố, như gần như xa, khiến tôi nghĩ rằng ở đâu đấy trên những sườn đồi, cánh cửa của vườn Địa Đàng đang mở ra, hoặc những nàng tiên đang múa hát dưới những gốc đào nở hoa, với mùi hương bát ngát như thể mùi tóc bay trong những chiều gió. Cỏ mọc ven những con đường trong thành phố, trên đó lưa thưa những chòm cây dại, như cây hoa ngũ sắc cười sặc sỡ dọc đường thơ ấu của tôi. Bay theo những bước chân lang thang của tôi là những con bướm, những cánh chuồn nghe ngày nắng lên tung tăng trong không gian, ghé cây này, vờn cây kia, trong một thành phố lúc nào cũng cổ xưa, văng vẳng điệu nhã nhạc của cung đình đã hoang phế. Đã nhiều năm, tôi chợt nhận ra rằng lũ chuồn chuồn, bươm bướm của tôi đã rời thành phố này mà đi đâu biệt tăm, chắc là chúng đã tìm đến một không gian khác yên tĩnh hơn, ít bị tiếng động làm choáng đầu hơn. Một hôm nhân có việc đi ra ngoại ô vào ban đêm, tôi gặp những đàn đom đóm mịt mù như một đám bụi sao bay trôi qua những khu vườn tối thẳm. Tôi lại nhớ ra rằng đã từ lâu, ở Huế người ta không còn thấy bóng con đom đóm, không còn thấy bóng những bầy trẻ con đang đuổi theo vầng bụi lửa đom đóm để cố bắt lấy "hạt ngọc nhà trời". Và chính ra những cánh bướm, cánh chuồn chuồn thân mến của tôi đã rời bỏ những bụi cây hoang dại ven đường mà đi về nơi khu vườn địa đàng của chúng, trên những đồi cỏ kia, để lại tôi đứng một mình làm thằng bé lang thang cơ nhỡ thế này. Ôi! tôi muốn làm Liệt Tử cưỡi gió mà đi khắp nơi trên thành phố kinh xưa của tôi, thành phố nằm phơi mình giữa non xanh nước biếc, tỏa rộng linh hồn vô ưu thênh thênh trong hương cỏ. Mùa xuân về, mặt đất công viên sáng bừng lên bởi ngàn vạn bông cỏ tím, mỗi bông cỏ lại ngậm trong lòng một hạt sương mai khiến vào buổi sáng sớm, cỏ ở ven sông Hương lấp lánh như những hạt ngọc. Những cô sinh nữ từng rủ nhau ra đấy ngồi chơi trên vạt cỏ; lâu ngày tâm hồn họ nhiễm phải căn bệnh trầm uất, sinh ra bởi những bụi phấn tím của bông cỏ mùa xuân. Một chút u hoài đã kết tinh trong đôi mắt khiến từ đó họ trở nên dè chừng với những cuộc vui trong đời, và dưới mắt họ, những trò quyến rũ đối với thế nhân tự nhiên nhuốm chút màu ảm đạm của cái mà bà Huyện Thanh Quan(1) khi xưa gọi là "hý trường"(2). Mùa xuân, tự nhiên tôi muốn gác hết mọi việc bận rộn để lên rong chơi trên những đồi cỏ gần vùng mộ Vua. Ở đó tôi có thể nằm ngửa mặt trên cỏ, ngước mắt nhìn chùm hoa lê nở trắng muốt trên cao. Tôi đã tìm đến định sống ở nhiều đô thị bắc nam; ở đó tôi có thể tìm thấy mọi cái cần cho cuộc sống của tôi, chỉ thiếu một cái mà tôi không chịu nổi, là thiên nhiên. Mùa hạ, trong những khu vườn Huế, khí đất xông lên hùng mạnh, cỏ mọc xanh lạ thường. Trái cây sắp chín nằm chờ trên cành, và khắp đây đó trong vùng Kim Long, khói đốt cỏ tỏa ra mịt mùng xanh mờ một vùng ven sông. Trên một chiếc bình phong cổ khuất trong cây lá của một khu sân vắng vẻ còn dấu chạm lỗ chỗ của một câu đối nói đến những bầy chim nhạn thường về đậu kêu om sòm trên bãi sông Hương trước mặt nhà. Tôi lớn lên 2
  3. không hề thấy bóng chim nhạn ven sông này. Chắc cũng giống như lũ côn trùng kia, chúng đã di trú về một vùng đất nào yên tĩnh hơn. Nhưng liệu có nơi nào gọi là "yên tĩnh hơn" trên hành tinh này. Hình như càng ngày nó càng trở nên ồn ào hơn xưa; và đó cũng là lỗi của chúng ta đã tước đoạt "quyền yên tĩnh" của thế hệ trẻ ngày mai. Mùa thu trời trở gió heo may lành lạnh làm người ta tự nhiên thấy nhớ nhung một quê hương nào không biết. Vào mùa này, các văn nhân thường mở hội leo núi, mang theo túi thơ bầu rượu lên các đỉnh núi cao mừng tiết "Trùng Cửu"(3). Núi đó có thể là núi Ngự Bình, núi Kim Phụng hoặc những rừng thông vùng đồi Thiên An(4), và văn nhân có thể là Bà Huyện Thanh Quan, Tuy Lý Vương(5), Hàn Mặc Tử(6). Những văn nhân ngồi uống rượu trên đầu núi, nghe tiếng chuông chùa thánh thót trên thành phố dầm mình trong sương khói; đi thăm núi trở về, băng qua sườn đồi, vó ngựa còn thơm nồng hương cỏ, gọi lũ bướm bay theo (Trích Miền cỏ thơm – Hoàng Phủ Ngọc Tường) Chú thích: (1) bà Huyện Thanh Quan: tên thật là Nguyễn Thị Hinh (1805 – 1845) là một nữ thi sĩ nổi tiếng sống ở thời nhà Nguyễn, người đất Thăng Long, có nhiều năm sống ở Kinh thành Huế. (2) hý trường: trong bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của bà Huyện Thanh Quan có câu “Tạo hóa gây chi cuộc hý trường”. Hý trường là nơi biểu diễn các loại hình sân khấu. Câu thơ ý muốn nói đến những buồn vui lẫn lộn từ những thay đổi của hóa công. (3) Trùng cửu: ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch. (4) núi Ngự Bình, núi Kim Phụng, đồi Thiên An: những địa danh ở Huế. (5) Tuy Lý Vương(1820 – 1897): hoàng tử nhà Nguyễn, một nhà thơ trung đại. (6) Hàn Mạc Tử: tên thật là Nguyễn Trọng Trí (1912 – 1940), một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới, người Bình Định, quê gốc Quảng Bình, từng có vài năm gắn bó với mảnh đất cố đô. Câu 2 (4.0 điểm) Tình yêu quê hương, đất nước là truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam. Viết một vài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh (chị) về tình yêu quê hương, đất nước của thế hệ trẻ trong thời kì hiện nay? ĐỀ 2 I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: [ ] Tôi giấu giếm vợ tôi, thỉnh thoảng giúp ngấm ngầm lão Hạc. Nhưng hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão. Lão từ chối tất cả những cái gì tôi cho lão. Lão từ chối một cách gần như là hách dịch. Và lão cứ xa tôi dần dần Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm. Những người nghèo nhiều tự ái vẫn thường như thế. Họ dễ tủi thân nên rất hay chạnh lòng. Ta khó mà ở cho vừa ý họ Một hôm, tôi phàn nàn việc ấy với Binh Tư. Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá. Hắn bĩu môi và bảo: - Lão làm bộ đấy! Thật ra thì lão chỉ tẩm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu: lão vừa xin tôi một ít bả chó Tôi trố to đôi mắt, ngạc nhiên. Hắn thì thầm: - Lão bảo có con chó nhà nào cứ đến vườn nhà lão Lão định cho nó xơi một bữa. Nếu trúng, lão với tôi uống rượu. Hỡi ơi lão Hạc ! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết Một người như thế ấy !... Một người đã khóc vì trót lừa một con chó !... Một người nhịn ăn để tiền lại 3
  4. làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư ? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn Không ! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác. Tôi ở nhà Binh Tư về được một lúc lâu thì thấy những tiếng nhốn nháo ở bên nhà lão Hạc. Tôi mải mốt chạy sang ( ) Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. ( ) Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết. Cái chết thật là dữ dội. Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà đau đớn và bất thình lình như vậy. Chỉ có tôi với Binh Tư hiểu (Trích Lão Hạc, Nam Cao – Tác phẩm, tập 1, NXB Văn học, Hà Nội, 1975) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích? Câu 2. Đoạn trích trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy? Câu 3. Cái chết của lão Hạc phản ánh bi kịch gì của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám? Câu 4. Theo bạn, tình tiết nào giúp tạo nên sự kịch tính cho văn bản? Vì sao? Câu 5. Từ văn bản trên, bạn rút ra được bài học gì khi đánh giá một con người? II. LÀM VĂN (6.0 điểm) Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về một phẩm chất tốt đẹp của nhân vật lão Hạc được thể hiện ở đoạn trích trên? Câu 2 (4.0 điểm) Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về sức mạnh của lòng yêu thương con người trong cuộc sống? ĐỀ 3 PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới: Đời tôi, đi đây đó đã nhiều, nhưng lại rất hiếm dịp được thấy Hà Nội. Chỉ một lần thuở bé, rồi một lần hồi chiến tranh, và mấy năm sau này thêm đôi lần nữa. Thành thử, ở Hà Nội, ngoài hồ Hoàn Kiếm với cầu Long Biên, tôi chỉ đại khái biết một ngôi nhà là nhà ga Hàng Cỏ và một con đường là đường xe điện. Nhưng, mặc dù như vậy, mỗi khi nhắm mắt lại nhìn sâu vào những nẻo đường của ký ức, bao giờ tôi cũng thấy hiện lên, tuy rất đỗi mơ hồ, bóng dáng của Hà Nội phố xá. Cái thành phố sâu thẳm, xa lạ, chẳng chút thân thuộc ấy, từ lâu lắm rồi đã lẳng lặng ăn vào đời tôi như là một trong những miền đất thân yêu nhất, dẫu rằng đấy là một tình thân yêu tưởng như không đâu, một duyên nợ hầu như vô cớ. Không hẳn là một nỗi niềm mà chỉ là bâng quơ một cảm giác, không thành một câu chuyện mà chỉ như là một nốt sầu còn vương lại của thời trai trẻ chiến tranh, một thời tuổi trẻ đã hoàn toàn mai một nhưng dư âm vọng suốt đời. Như tiếng mưa rơi. Như tiếng gió lùa. Như tiếng lá rụng. Mà không bao giờ quên. Từ bấy tới nay, thời gian mất đi đã hai chục năm tròn. Hà Nội thuở đó với Hà Nội bây giờ có lẽ đã như là một trời một vực. Ngày ấy, từ mặt trận Quảng Trị, tôi lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra họp Bộ tư lệnh đang đóng ở rìa thủ đô. Khi chúng tôi ra tới nơi, thành phố đang ngất trời bom đạn. Đây thực sự là cuộc đụng đầu sống mái, một trận quyết chiến vì lẽ mất còn. Giữa huống cảnh chung nước sôi lửa bỏng như thế, chẳng dám màng gì một chuyến về quê, tôi chỉ xin được rảo vào phố để rải non chục lá thư của anh em đồng đội người Hà Nội đã gửi gắm. Tôi muốn trao thư tận tay các gia đình, để có thể nhận được ngay hồi âm mang ngược vào đơn vị cho lính 4
  5. ta sướng. Lựa ngày Nô-en, cấp trên thuận cho tranh thủ. Hạn đến 0 giờ phải trở về trình diện. Tôi vào thành phố, dưới mưa chiều. Mưa phùn mùa đông buồn bã. Mái nhà, lòng đường, vòm cây một mầu thẫm ướt. Xe cộ phóng rất nhanh, người đi bộ gấp bước. Mặc dù không biết phố nào vào với phố nào, lại ôm trong mình những chín lá thư, nhưng thoạt đầu tôi nghĩ không việc gì phải lo. Chỉ cần hỏi tới một địa chỉ, rồi từ đấy lần lượt nhờ người ở địa chỉ trước đưa mình đến địa chỉ sau. Không dè, rốt cuộc, cả chín lá thư tôi đều phải lùa vào phòng qua khe cửa. Ngày hôm ấy, dường như cả Hà Nội đã khoá trái cửa, bỏ nhà đấy mà đi. Xong được lá thư chót, trời đã tối sầm. Phố dài vắng ngắt ngâm mình trong mưa, tù mù những vùng đèn đường. Tôi hỏi được về Vọng. Một anh dân phòng diện ủng, vận áo tơi bạt, tận tình dẫn tôi đi một đoạn khá xa đường. Đến ngã ba nọ, trước khi chia tay, anh chỉ xuống cặp ray đường tầu điện chạy sát vỉa hè và bảo tôi cứ bám theo đó mà đi là đến. Sụp mũ cối xuống, dựng cổ áo lên, tôi lần sâu vào trong màn mưa phùn mờ mỏng dưới trời đêm lạnh buốt. Hai vệt ray loáng ướt, chẳng khác nào một lối mòn độc đạo xuyên qua rừng rậm nhà cửa tối đen. Thành phố chiến tranh như bên bờ vực, hun hút hoang vắng. Tôi cắm cúi bước, thui thủi, tê dại. Thăm thẳm nối nhau những chặng đường khuya không ánh sáng đèn, không một bóng bộ hành, không bóng một hàng quán. Hơi thở lạnh ngắt của đêm mưa ngấm vào tận cái dạ dày tôi trống rỗng. Các khớp xương cóng nhức cứng đơ như đang rời cả ra và rơi rụng. Cơn sốt âm ỉ từ chiến trường dâng lên dọc sống lưng, tôi sởn gai ốc, và không ngớt rùng mình. Đầu óc chậm chạp chung chiêng, đầu gối những muốn khuỵu xuống. Đi chưa được mấy đường, tôi đã bắt đầu đếm bước. Màn đêm ướt át như đông lại. Không nhìn thấy gì trước mắt, suýt nữa thì tôi đã xô người tới va mặt vào một cái đầu tầu điện đen ngòm đậu chết cứng giữa lòng đường. Chuệnh choạng, tôi rẽ lên vỉa hè, rồi lảo đảo tấp vào dưới mái hiên một ngôi nhà. Răng va lập cập trong miệng, tôi tựa lưng vào cánh cửa đóng chặt, rồi từ từ trượt người xuống, ngồi phệt lên cái bậc tam cấp ướt đẫm hơi mưa và lạnh như một cây nước đá. Rét mướt buốt tim, tôi rên hừ hừ và rồi cũng không rên nổi nữa. Cũng không sao ghìm lại được cơn run, cứ run bắn lên, run cầm cập. Thân nhiệt của mình lúc này có lẽ chỉ còn bằng với người đang ngắc ngoải, cái đầu đã tê cóng của tôi lờ đờ nghĩ, không khéo mà khốn đến nơi rồi, không khéo mà là một cơn ác tính. Những người bị sốt rét ác tính nằm chết trên võng giữa rừng sâu, còn mình thì chết ngồi, chắc thế, và sẽ hoá thành tảng đá co ro trước cửa nhà người ta. Trên đầu tôi, mái tôn rách nát run bần bật. Dưới vẫn mưa gió. Gió phả mưa vào tận thềm. Đã ướt lại ướt thêm một lượt nữa, tôi thở hắt, mặt mày xây xầm. Biết là cần phải dốc toàn lực bình sinh mà đứng dậy và bước đi, song hết rồi, nghị lực đã tê bại. Sinh lực xuống nhanh như mực nước trong một cái bình bị đập vỡ đáy, sự sống trong tôi xoay tròn một vòng và từ từ, lặng lẽ lật nghiêng. Đúng khi đó, sau lưng tôi, cửa kẹt mở. Tôi nghe thấy nhưng mà không ý thức được tiếng động ấy. Cơn choáng ngất gần như là một nỗi yếu mềm, một sự buông lơi, như thể một tiếng thở phào, nhẹ nhàng ru tôi ra khỏi tôi... (Trích Khắc dấu mạn thuyền, Bảo Ninh) Câu 1. Xác định ngôi kể của truyện? Câu 2. Trong đoạn trích, bức tranh Hà Nội được miêu tả vào thời gian nào? Câu 3. Câu văn nào sử dụng biện pháp tu từ chêm xen? Câu 4. Khung cảnh Hà Nội trong câu văn sau: “Thành phố, dưới mưa chiều. Mưa phùn mùa đông buồn bã. Mái nhà, lòng đường, vòm cây một mầu thẫm ướt. Xe cộ phóng rất nhanh, người đi bộ gấp bước.” hiện lên như thế nào? Câu 5. Trong đoạn trích trên, Bảo Ninh đã xây dựng tình huống truyện như thế nào? PHẦN II. VIẾT (6 điểm) 5
  6. Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về một vẻ đẹp của người lính lái xe được thể hiện trong đoạn trích trên? Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa sự hi sinh thầm lặng trong cuộc sống? ĐỀ 4 I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc bài thơ sau: Bảo kính cảnh giới ( Bài 22) (Nguyễn Trãi) Của thết người là của còn, Khó khăn phải đạo cháo càng ngon. Thấy ăn chạy đến thì no dạ, Trợ đánh bênh nhau ắt phải đòn. Chớ lấy hại người làm ích kỷ, Hãy năng tích đức để cho con. Tay ai thì lại làm nuôi miệng, Làm biếng ngồi ăn lở núi non. (Thơ Quốc Âm Nguyễn Trãi- Bùi Văn Nguyên biên khảo, trang 120, NXB Giáo dục 2003 ) Trả lời các câu hỏi sau: Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên? Câu 2. Chỉ ra cách gieo vần được sử dụng trong văn bản? Câu 3. Phân tích và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ sau? Chớ lấy hại người làm ích kỷ, Hãy năng tích đức để cho con. Câu 4. Vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ Nguyễn Trãi được thể hiện qua bài thơ Bảo kính cảnh giới – bài 22? Câu 5. Anh/ chị hiểu như thế nào về nội dung hai câu thơ kết? Nêu bài học rút ra cho bản thân? Tay ai thì lại làm nuôi miệng, Làm biếng ngồi ăn lở núi non. II. VIẾT (4.0 điểm) Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ tình) bày suy nghĩ của em về quan điểm được tác giả thể hiện trong hai câu thơ sau? Của thết người là của còn, Khó khăn phải đạo cháo càng ngon. Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận trình (khoảng 600 chữ) bày suy nghĩ của anh (chị) về vai trò ý nghĩa của sự sẻ chia trong cuộc sống? ĐỀ 5 I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc bài thơ: TỰ TÌNH (Bài 3) Hồ Xuân Hương 6
  7. Chiếc bách1 buồn về phận nổi nênh, Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh. Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng, Nửa mạn phong ba luống bập bềnh. Cầm lái mặc ai lăm2 đỗ bến, Dong lèo3 thây4 kẻ rắp xuôi ghềnh. Ấy ai thăm ván cam lòng vậy, Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh. (Theo Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương - Lê Trí Viễn, NXB Giáo dục, 2007, tr.49) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Câu 2. Tìm những từ láy trong bài thơ? Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ trong câu thơ: Chiếc bách buồn về phận nổi nênh? Câu 4. Bạn hiểu như thế nào về hai câu thơ sau: Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến, Dong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.? Câu 5. Bạn cảm nhận như thế nào về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ? II. VIẾT (6.0 điểm) Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về một phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam? Câu 2 (4.0 điểm) Miệt thị ngoại hình (Body Shaming) là một thực trạng nhức nhối trong xã hội hiện đại. Rất nhiều người trẻ hiện nay có thói quen kì thị, chê bai ác ý vẻ ngoài của mọi người. Bạn hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) thuyết phục người khác từ bỏ thói quen này. ĐỀ 6 Phần I. Đọc hiểu (4.0 điểm): Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi: “Mang xống áo mùa thu Làm mùa thu Nhớ giấc ngủ ngàn thu trong đài sen úa Nhớ giọng nói mềm mại như bóng râm Chảy vào căn nhà đổ Ngày nào về đây xem rùa nổi giữa hồ Sông Ngân xuống sông Hồng lên tiếng kêu xé ruột Ngày nào ngó cơn giông trong suốt Ta cầm tay ta hôn nhau Tựa hoa nở thật nhẹ nhàng thật chậm Ngày nào theo em đi lấy rau cần Gặp mái tóc rũ buồn mệt mỏi 1. Chiếc bách: chiếc thuyền bằng gỗ bách, gỗ rất nhẹ. 2. Lăm: có ý định và sắp làm một việc gì. 3. Lèo: dây cột buồm. 4. Thây: mặc kệ, thây kệ. 7
  8. Con diều vàng bén lửa giữa hoàng hôn Vừa trăng trăng rập rờn Đã chuông rền loang loáng sóng hồ Tây Mùa thu len lén ra khỏi cây Đi nào đi với anh xuống đáy hồ xa thẳm”. (Mùa thu đầu tiên- Nguyễn Bình Phương) Câu 1. Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ? (0,5 điểm) Câu 2. Trong bài thơ, nhân vật trữ tình đã nhớ những điều gì? (0,5 điểm) Câu 3. Phân tích tác dụng của việc sử dụng từ láy trong bài thơ? (1,0 điểm) Câu 4. Trình bày cách hiểu về các câu thơ sau: Ngày nào ngó cơn giông trong suốt/Ta cầm tay ta hôn nhau/ Tựa hoa nở thật nhẹ nhàng thật chậm? (1,0 điểm) Câu 5. Nhận xét về tình cảm của tác giả đối với mùa thu được thể hiện trong bài thơ. (1,0 điểm) PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm xúc của mình sau khi đọc xong bài thơ "Mùa thu đầu tiên" của Nguyễn Bình Phương?. Câu 2. (4,0 điểm) Đọc đoạn văn sau trích trong truyện ngắn "Gió xanh" của Phạm Duy Nghĩa: Hôm ấy là một ngày hè. Vào lúc hoàng hôn, có tiếng ù ù vọng lại từ phía chân trời. Không ai rõ là tiếng gì, trời vẫn trong xanh, lơ thơ vài cụm mây bông. Khi âm thanh lạ ấy tràn qua đồng cỏ ven hồ về đến dãy đồi dẫn vào xóm tôi, mọi người nhận ra tiếng gió và những tiếng kêu thét nổi lên. Ai nấy đều kinh hãi. Gió gì mà lại có màu, một màu xanh lam đẹp không thể tưởng tượng nổi. Trong chốc lát nó nhuộm biếc mấy trái đồi khô cằn rồi ào ạt phết màu lên những rặng cây mái nhà. Đi tới đâu gió hiện rõ hình thù tới đấy, vừa đổ màu một cách hoang phí khắp núi đồi thung lũng vừa phát ra những tiếng ngân rất mỏng như khi ta búng vào một chiếc lọ pha lê. Lúc đó tôi đang đứng ở hiên nhà. Chùm chuông gió reo lên lanh lảnh và cánh cửa sổ cũ kỹ bằng gỗ dẻ mở ra đóng lại liên hồi. Nhìn thấy gió cuồn cuộn thốc vào, tôi hoảng hốt đánh rơi cái gầu múc nước. Gió trườn qua tôi mỏng tang, xanh biếc. Thoảng trong gió một mùi thơm rất nhẹ, sâu kín như mùi của loài hoa dại trên núi chín năm mới nở một lần. Đêm ấy dân các xóm đổ cả ra đường. Cảnh đẹp đến mức không ai ngủ nổi. Suốt đêm, gió thổi một màu xanh huyền ảo vào vườn tược, chuồng trại, biến mọi thứ nhếch nhác xập xệ thành chốn thần tiên. Trăng lên, to tròn và trắng bệch mắc trên ngọn cây dạ huyền, màu nguyệt bạch của trăng càng làm ma mị hơn màu xanh của gió. Cho đến sáng, một hương thơm kỳ lạ vẫn quấn quyện trong khắp các khu vườn, khe lũng, lẫn trong hương thôn dã của đất cùng trăm thứ mùi ngan ngát của muôn hoa. (Trích "Gió xanh" của Phạm Duy Nghĩa) Từ hình ảnh "gió xanh" anh/chị hãy trình bày suy nghĩ về hiện tượng một bộ phận giới trẻ hiện nay thường chạy theo những điều viển vông hão huyền trong xã hội ngày nay? ĐỀ 7 Phần I. Đọc hiểu (4.0 điểm): Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi: "Một năm mười hai tháng vận chuyển bướm ong còn làm bạn với hoa trai gái được đi về trẩy hội 8
  9. nhiều bạn gái lo ít bạn trai anh nói rõ họ tên em biết đến mùa về trồng bắp trên nương làm không kịp nhớ tìm em với" Bài hát ấy già lắm rồi từ khi có núi có đồi có nền nhà mẹ cha đã hát con sông Qui hiếm hoi chở người sang dào dạt tiếng hát trẻ mãi không già Mùa xuân này mẹ cho tháng giêng anh em ra chiến hào chiến hào mới đào đất bừng máu đỏ hướng súng ngược chiều gió... anh em tôi chia nhau tháng giêng riêng câu hát phần em tất cả Dẫu em qua một vùng đảo đá đá lô nhô như sóng triều dâng sóng có buồn? Sao núi bâng khuâng quê tôi còn nghèo lắm Đất nước mệt trăm miền giặc giã cây cầu tre gánh lúa nuôi quân chỉ có màu chàm ở lại với dân tình cách mạng lúc nào cũng thắm em gái tôi mới lớn bài hát vui em hát suốt mùa đông Sửa khăn áo đi em câu hát tháng giêng cất vào hoa đá đứng vững ở đây mà chiến đấu tựa lưng vào màu đỏ chiến hào ta nhất quyết không lùi cả đất nước trong bàn tay ta giữ câu hát này thiêng liêng lắm chứ hát bây giờ còn để hát mai sau. ( Tiếng hát tháng giêng, Y Phương, Nguồn: Báo Tiền phong, số ngày 15-3-1988). Câu 1. Xác định đối tượng trữ tình và nhân vật trữ tình. (0,5 điểm) Câu 2. Chép câu thơ có sử dụng biện pháp tu từ so sánh. (0,5 điểm) Câu 3. "Bài hát ấy già lắm", "tiếng hát ấy trẻ mãi không già"; em hiểu như thế nào về ý thơ này? (1,0 điểm) Câu 4. Em có đồng ý với quan điểm "câu hát này thiêng liêng lắm chứ/hát bây giờ còn để hát mai sau" hay không? Vì sao? Câu 5. Nhận xét về thái độ, tình cảm của tác giả dành cho quê hương đất nước. Thái độ đó có ý nghĩa như thế nào đối với anh/chị? (1,0 điểm) 9
  10. PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Hãy viết đoạn văn theo cấu trúc diễn dịch (khoảng 200 chữ) để làm rõ vẻ đẹp của tiếng hát tháng giêng trong bài thơ cùng tên của Y Phương. Câu 2 (4,0 điểm) Cuộc sống sẽ ra sao nếu trên thế gian này không còn tiếng hát? Hãy viết bài văn nghị luận xã hội để trả lời cho câu hỏi trên. ĐỀ 8 I.ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: Nhà tôi ở trong thung lũng. Nhiều năm trước, khi tôi còn là một cô gái nhỏ, vùng tôi ở được chứng kiến một sự lạ thường. Hôm ấy là một ngày hè. Vào lúc hoàng hôn, có tiếng ù ù vọng lại từ phía chân trời. Không ai rõ là tiếng gì, trời vẫn trong xanh, lơ thơ vài cụm mây bông. Khi âm thanh lạ ấy tràn qua đồng cỏ ven hồ về đến dãy đồi dẫn vào xóm tôi, mọi người nhận ra tiếng gió và những tiếng kêu thét nổi lên. Ai nấy đều kinh hãi. Gió gì mà lại có màu, một màu xanh lam đẹp không thể tưởng tượng nổi. Trong chốc lát nó nhuộm biếc mấy trái đồi khô cằn rồi ào ạt phết màu lên những rặng cây mái nhà. Đi tới đâu gió hiện rõ hình thù tới đấy, vừa đổ màu một cách hoang phí khắp núi đồi thung lũng vừa phát ra những tiếng ngân rất mỏng như khi ta búng vào một chiếc lọ pha lê. Lúc đó tôi đang đứng ở hiên nhà. Chùm chuông gió reo lên lanh lảnh và cánh cửa sổ cũ kỹ bằng gỗ dẻ mở ra đóng lại liên hồi. Nhìn thấy gió cuồn cuộn thốc vào, tôi hoảng hốt đánh rơi cái gầu múc nước. Gió trườn qua tôi mỏng tang, xanh biếc. Thoảng trong gió một mùi thơm rất nhẹ, sâu kín như mùi của loài hoa dại trên núi chín năm mới nở một lần. Đêm ấy dân các xóm đổ cả ra đường. Cảnh đẹp đến mức không ai ngủ nổi. Suốt đêm, gió thổi một màu xanh huyền ảo vào vườn tược, chuồng trại, biến mọi thứ nhếch nhác xập xệ thành chốn thần tiên. Trăng lên, to tròn và trắng bệch mắc trên ngọn cây dạ huyền, màu nguyệt bạch của trăng càng làm ma mị hơn màu xanh của gió. Cho đến sáng, một hương thơm kỳ lạ vẫn quấn quyện trong khắp các khu vườn, khe lũng, lẫn trong hương thôn dã của đất cùng trăm thứ mùi ngan ngát của muôn hoa. Mùa hè năm ấy cả vùng gần như không ngủ. Trai gái dắt nhau ra hồ chơi đến sáng, người lớn rì rầm nói chuyện trong các ngõ xóm, khu vườn. Tiếng đàn guitar bập bùng suốt đêm bên hồ, tiếng sáo réo rắt đến khuya trên đồi và tiếng đàn bầu nỉ non đến sáng trên sân nhà. Xóm nào cũng phơi phới, tưng bừng không khí carnaval. Ông giáo già xóm tôi mê mải làm thơ, chủ đề chính là ca ngợi gió xanh Còn bao điều kỳ lạ nữa, đến mức trên huyện phải cử một đoàn cán bộ về tìm hiểu vì sao dân ở xã này tốt lên một cách đáng ngờ. Đoàn cán bộ ngây ngất ngắm gió xanh lồng lộng thổi, ghi kết luận vào biên bản: “Cảnh ở đây quá đẹp, khiến con người ta không nỡ sống hèn”. (Trích "Gió xanh" của Phạm Duy Nghĩa) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính và ngôi kể được sử dụng trong truyện. (0,5 điểm) Câu 2. Gió xanh kết hợp với yếu tố nào khiến cho nó trở nên "ma mị" hơn? (0,5 điểm) Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong các câu văn sau: "Gió trườn qua tôi mỏng tang, xanh biếc. Thoảng trong gió một mùi thơm rất nhẹ, sâu kín như mùi của loài hoa dại trên núi chín năm mới nở một lần." (1,0 điểm) Câu 4. Nhận xét về cách miêu tả "gió xanh" của tác giả? Theo anh/chị gió xanh tượng trưng cho điều gì? (1,0 điểm) 10
  11. Câu 5. Em hiểu như thế nào về câu văn: "Cảnh ở đây đẹp quá, khiến con người ta không nỡ sống hèn". (1,0 điểm) II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về nghệ thuật kể chuyện trong đoạn trích "Gió xanh" của Phạm Duy Nghĩa. Câu 2 (4,0 điểm) Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về tình yêu quê hương đất nước đối với các bạn trẻ hiện nay? ĐỀ 9 I.ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: Tôi không thích khi cưỡi xe vào tận thềm nhà lại phải rạp mình dưới giàn bầu ấy. Chị và mẹ tôi lại ngại tóc rối. Cha tôi khó chịu khi phải dắt quan khách len lỏi bên mấy trái bầu để vào căn nhà sang trọng. Nhưng không ai dám chặt phá giàn bầu bởi nó của bà nội tôi. Bà trông nó từ hồi trong quê ra. Thoạt đầu, chị em chúng tôi thích lắm, chiều chiều lon ton xách thùng ra tưới. Chúng tôi tưới như tưới hoa. Nội cười- “Bay tưới như thằn lằn đái”. Rồi bà đổ nước soàn soạt, chúng tôi nghe theo, đổ nước soàn soạt. Dây bầu lớn. Trong cái nách mập mạp lú ra mấy trái con xanh xanh. Trái bằng đầu đũa, bằng ngón tay, cườm tay rồi to to mãi. Bữa canh đầu tiên cả nhà háo hức, nuốt tuồn tuột từng miếng bầu trong veo, ngọt lịm. Ba gật gật khen ngon, day sang trách mẹ “sao trước giờ không mua bầu mà nấu ăn bà ta?” Một lần, hai lần rồi ba lần, chúng tôi ngán tận cổ. Mà, chết thật, nội tôi cứ trồng mãi, trồng mãi, giàn bầu ngày càng rộng ra choán hết khoảng sân kiểng của cha xanh rầm rì. Trái già đến vàng khô, không ai ăn, bà mang cho hàng xóm. Hàng xóm chúng tôi cũng giàu có, họ chê nhưng cũng nhận bởi họ nể cha tôi. Nhiều quá, sớm sớm, chiều chiều, nội mang ra ngõ, này cho chị xôi chè một quả: "ăn lấy thảo”, này cho bác xích lo trái bầu “về nấu cho sắp nhỏ”. Rồi bà lại trồng. Chị Lan nhăn nhó: - Nội ơi, trồng chi nhiều vậy? Bà nội cười, buồn buồn. - Nội làm lặt vặt quen rồi. Trồng trọt để đỡ nhớ quê. Ôi cái quê của nội. Cái quê heo hút muốn về phải đỉ mấy chặng xe, tàu. Cái quê mà mỗi lần về, vào cuối mùa mưa, đất bùn quến vào móng chân tôi, ém chặt thối đen. Cái quê đèn cầy, đèn cóc, đêm nhóc nhen kêu buồn nẫu ruột, mùa lũ, lơ phơ chỉ thấy mấy nóc nhà. Ba tôi nói “làm người đừng suy nghĩ hẹp hòi, đừng tưởng nơi mình sinh ra, nơi có mồ mả ông cha là quê hương, khắp đất nước này chỗ nào cũng là quê cả”. Cha tôi nói đúng và ông rước bà nội lên thành phố. Trước, ông chủ tịch đến nhà chơi, uống bia khà khà rồi nhắc: “- Lâu quá không gặp má, hôm nào chú mầy rước má lên, tội nghiệp bà già ” Cha bưng bát hương ông đi trước, bà nội lúi húi bưng bát hương chú Út theo sau. Ở nhà tôi, công việc nhàn đến mức bà thơ thẩn vào rồi lại thơ thẩn ra. Nhà cao cửa rộng, khéo đi, cả ngày chẳng ai gặp mặt ai. Chị tôi đi học cả ngày, mẹ tôi đến sở. Bà ra cửa trước, tôi vào cửa sau, bà lên lầu, cha đi xuống, gặp nhau ở lối ngõ cầu thang, nội ngó cha, nhắc “Lúc này bay bận rộn, đến không không ăn cơm ở nhà, khéo ngã bệnh nghen con”. Cha cười “má khỏi lo”. Rồi mỗi người mỗi ngả. Bà năng xuống bếp, quấn quít ở đấy. Chị bếp khoe: - Bác ơi, con làm bánh tổ nè, bác cháu mình cùng ăn nghen. Bà tôi gật gù khen ngon. Tôi tò mò nhón lấy một miếng ăn thử, nó ngòn ngọt dai dai. Thứ bánh nhà quê này xem ra có khác với Sandwich, chocolate. Bà làm nhiều thứ bánh lắm, không kể hết được, nào là bánh ngọt, bánh ú....toàn là bánh nhà quê, mà hình như chỉ 11
  12. tôi ăn, ba mẹ, chị Lan đều tránh xa xa hỏi " Bánh đó ăn ra làm sao? " Tôi khoe "Sáng này nội làm bánh khọt ngọt ngon lắm."Chị Lan tròn mắt" bánh gì tên ngộ vậy? Ừ, ngộ, ngộ chứ. Nội mua về cái lò đất khói tù mù. Cha tôi chê. Nội mang ra ngoài hè để đỡ ám khói tường nhà. Bà bảo: "Làm bánh khọt thì phải đốt bằng lò đất, nó mới ngon". Bà đốt lửa, mắt già tèm nhem nước mắt mùi khói thơm thơm, cay nồng. Mùa này nhiều trái bầu khô, nội hái vào móc ruột ra, lấy cái vỏ mằn mì gọt. Lâu lâu nội đưa lên nhìn, nheo nheo mắt. Tôi hỏi, nội gọt gì. Nội cười, đưa cho tôi mảnh vỏ dầy hình trái tim nỏ xíu. - Mặt dây chuyền cho tụi nhỏ đeo. Tôi không nén được xuỳ một tiếng. - Thời này ai đeo mấy thứ này, nội làm chỉ mất công. Trong đôi mắt đùng đục của bà, tôi thấy có một nỗi buồn sâu kín. Con chị bếp dưới quê lên, bà gói dúi vào tay nó mấy mảnh bầu. Con nhỏ hớn hở, vui thiệt là vui. Cũng niềm vui ấy, con bé bán vé số lỏn lẻn cười "Bà đẽo đẹp ghê ha". Hôm sau tôi thấy nó xúng xính xỏ cọng chỉ vào, đeo tòn ten trước cổ lạ lắm. Hình như tôi ngắm vàng ròng, cẩm thạch quen rồi. Tôi xin, bà móm mém cười "Bà để dành cho bay cái đẹp nhất nè". Tôi gói trái tim xíu xíu kia bỏ vào ngăn tủ, chị Lan trông thấy giành "cho chị đi". Tôi lắc đầu. Chị giận bảo "chị cóc cần, ở chợ bán hàng khối". Nhưng rồi chị quay về nài nỉ tôi . Lần đầu tiền, tôi thấy món quà của nội dễ thường đến thế. Giàn bầu vẫn trước ngõ. Cha tôi đã thôi khó chịu, hay bực dọc riết rồi chai đi, chẳng biết bực là gì nữa. Nhưng khách đến nhà, ai cũng khen "anh ba có giàn bầu đẹp thiệt". Họ săm soi, từng mảng lá cuống hoa. Khách nước ngoài còn kề má bên trái bầu xanh lún phún lông tơ mà chụp hình kỷ niệm. Mấy anh chị sinh viên đạp xe ngang dừng lại nhìn đau dấu qua rào rồi kháo nhau "Nhớ nhà quá, tụi mày ơi". Chiều chiều, tôi ra giàn bầu xanh rượi, mơ màng nghe con ong vò vẽ trên từng phiến lá, chớp mắt nhìn chim sâu lích rích chuyển cành, chuồn chuồn rồi bướm rồi hoa thi nhau nở chấp chới. Bà nội tôi yếu hơn trước, mùa mưa bắt đầu lướt sướt đi qua. Ông chủ tịch đến chơi nhà, ôm chầm lấy nội, lắc lắc "lúc này má khoẻ không?" Nội cười xoà mà nghe nghẹn nghẹn "khoẻ, má khỏe". Cha tôi sai chị bếp mang rượu thịt ra ông chủ tịch khóa tay: - Thôi, chú bảo chị ấy nấu canh bầu ăn. Cha hẩng mặt. Chị bếp lúi húi gọt bầu, mùi nước canh xông vào mũi thơm lừng. Ông chủ tịch day qua bà nội khoe "lâu quá không ăn canh bầu rồi, má!" nội cười: "má nhớ bay thích nhất là ăn bầu nấu tép bạc". Cha dôi dợm mình "để con đi mua tôm". Ông chủ tịch ấn vai, bảo "thôi, chú cứ ngồì xuống, anh thèm lắm rồi, không chờ chú được đâu". Hôm ấy cả nhà tôi ăn lại bát canh ngày xưa, nghe ngọt lìm lịm lưỡi. Chị bếp ngó nội, khoái chí cười đầy hàm ý. Hình như nội tôi vui. (Giàn bầu trước ngõ - Nguyễn Ngọc Tư) Câu 1. Xác định ngôi kể được tác giả sử dụng trong truyện? (0,5 điểm) Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh miêu tả giàn bầu trong truyện? (0,5 điểm) Câu 3. Thái độ của mọi người trong gia đình nhân vật "tôi" đối với giàn bầu trước ngõ ra sao? Tại sao họ lại có thái độ như vậy? (1,0 điểm) Câu 4. Nhân vật người bà là con người của chốn thôn quê hay của phố phường? Lí giải vì sao em khẳng định như vậy? (1,0 điểm) Câu 5. Chỉ ra sự khác biệt về giá trị của giàn bầu đối với những thành viên trong gia đình nhân vật "tôi" và đối với những sinh viên, ông chủ tịch? PHẦN II. VIẾT (6 điểm) Câu 1. (2 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày những cảm nhận của anh/chị về nhân vật người bà trong truyện ngắn "Giàn bầu trước ngõ" của Nguyễn Ngọc Tư? Câu 2.(4 điểm) 12
  13. Trong cuộc sống vẫn luôn có sự chênh lệch, khác biệt về quan điểm, tư tưởng, thói quen giữa các thế hệ. Theo anh/chị có cách nào, giải pháp nào để "xóa nhòa" sự chênh lệch khác biệt đó? Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề trên? ĐỀ 10 I. ĐỌC – HIỂU (6,0 điểm) Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện yêu cầu: Bà lão ấy hờ con suốt một đêm. Bao giờ cũng vậy cứ hết đường đất làm ăn là bà lại hờ con. Làm như chính tự con bà nên bây giờ bà phải đói. Mà cũng đúng như thế thật. Chồng bà chết từ khi nó mới lọt lòng ra. Bà thắt lưng buộc bụng, nuôi nó từ tấm tấm, tí tí giở đi. Cũng mong để khi mình già, tuổi yếu mà nhờ. Thế mà chưa cho mẹ nhờ được một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Công bà thành công toi. Con vợ nó không phải giống người. Nó có biết thương mẹ già đâu! Chồng chết vừa mới xong tang, nó đã vội vàng đi lấy chồng ngay, nó đem đứa con gái lên năm giả lại bà. Thành thử bà đã già ngót bảy mươi, lại còn phải làm còm cọm, làm mà nuôi đứa con gái ấy cho chúng nó. Hết xương, hết thịt vì con, vì cháu, mà nào được trông mong gì? Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bào: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở 13
  14. dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi. * Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Mới đầu, còn đuợc ngày ba tấm. Sau cùng thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng, bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng. Ai lấy đâu mà ngày nào cũng cho như vậy? Lòng thương cũng có hạn. Mấy hôm nay bà nhịn đói. Bởi thế bà lại đem con ra hờ. Bà hờ thê thảm lắm. Bà hờ suốt đêm. Bà khóc đến gần mòn hết ra thành nước mắt. Đến gần sáng, bà không còn sức mà khóc nữa. Bà nằm ẹp bụng xuống chiếu, nghĩ ngợi. Có người nói: những lúc đói, trí người ta sáng suốt. Có lẽ đúng như thế thật. Bởi vì bà lão bỗng tìm ra một kế. Bà ra đi.{ } (Trích “Một bữa no” của Nam Cao) Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn bản trên? (0.5 đ) Câu 2: Người kể chuyện trong “Một bữa no” là ai? ở ngôi kể thứ mấy? (0,5 đ) Câu 3: Theo anh/chị, nhân vật bà lão trong đoạn trên có cuộc đời, số phận như thế nào? Tìm những chi tiết chứng tỏ điều đó? (1,0 đ) Câu 4: Nhà văn thể hiện tình cảm, thái độ như thế nào với nhân vật bà lão? (1,0 đ) Câu 5: Theo anh/chị, đoạn truyện mang những giá trị nào về mặt nội dung? Biểu hiện của những giá trị đó? (1,0 đ) PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm). Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 200 chữ) phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật trong đoạn trích ? Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận bàn về vai trò của lòng tự trọng? 14