Tài liệu ôn tập Ngữ văn 10 - Phần: Lí thuyết đọc hiểu và viết đoạn văn
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu ôn tập Ngữ văn 10 - Phần: Lí thuyết đọc hiểu và viết đoạn văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tai_lieu_on_tap_ngu_van_10_phan_li_thuyet_doc_hieu_va_viet_d.pdf
Nội dung tài liệu: Tài liệu ôn tập Ngữ văn 10 - Phần: Lí thuyết đọc hiểu và viết đoạn văn
- LÍ THUYẾT ĐỌC HIỂU 1. Các phương thức biểu đạt Cần lưu ý: Không phải mỗi văn bản chỉ có một hình thức biểu đạt duy nhất, mà thường kết hợp các hình thức biểu đạt khác nhau nhưng bao giờ cũng có một phương thức là chủ đạo. 2.Nhận diện các phong cách ngôn ngữ
- Tuy nhiên trong thực tế, ngữ liệu để dùng đọc hiểu không chỉ được trình bày theo một phong cách ngôn ngữ duy nhất mà thường kết hợp nhiều phong cách khác nhau. Ví dụ phong cách ngôn ngữ chính luận và báo chí thường đi kèm với nhau; phong cách nghệ thuật và sinh hoạt cũng có thể đi kèm với nhau. Vì vậy khi gặp những văn bản loại này học sinh phải chú ý nếu không sẽ không được điểm tối đa. 3.Nhận diện các phép liên kiết hình thức 4 .Nhận diện các kiểu câu Gồm: Câu chia theo mục đích nói (Câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu cầu khiến); Câu chia theo cấu trúc/chức năng ngữ pháp: Câu chủ động/câu bị động; câu bình thường/câu đặc biệt; câu đơn/câu ghép.
- 5.Nhận diện các thao tác lập luận Các thao tác lập luận bao gồm: Thao tác giải thích (là vận dụng tri thức để hiểu vấn đề nghị luận một cách rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý mình); Thao tác chứng minh: Là đưa ra những cứ liệu, dẫn chứng xác đáng để làm sáng tỏ một lí lẽ, một ý kiến để thuyết phục người đọc nghe và tin tưởng vào vấn đề; Thao tác phân tích khái niệm: Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để xem xét kĩ lưỡng nội dung và những mối liên hệ bên trong bên ngoài của đối tượng; Thao tác so sánh khái niệm: So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của sự vật để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật; Bình luận khái niệm: Bình luận là bàn bạc đánh giá vấn đề, sự việc, hiện tượng đúng hay sai, hay/dở, tốt/xấu, lợi/hại, đề nhận thức đối tượng, cách ứng xử phù hợp và có phương châm hành động đúng; Thao tác lập luận bác bỏ khái niệm: Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái hiển nhiên của vấn đề, trên cơ sở đó đưa ra nhận định đúng đắn của mình. 6.Nhận diện phương pháp lập luận Các phương pháp lập luận gồm: Phương pháp diễn dịch (câu chốt, câu nêu ý khái quát đạt ở đầu đoạn); Phương pháp quy nạp (câu chốt, câu nêu ý khái quát đạt ở cuối đoạn); phương pháp song hành (không có câu chốt, câu chủ đề, tất cả các câu cùng tập trung hướng tới một chủ đề chung); Phương pháp móc xích; phương pháp tổng – phân – hợp (có hai câu chốt nằm ở đầu và cuối đoạn nhưng hai câu này không giống nhau). 7.Các thể thơ. a,Thơ đường luật -Có 2 loại: thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú. -Vần: vần chân, vần ở cuối câu thơ. Ví dụ: thất ngôn tứ tuyệt:bài Chiều tối-HCM (ngữ văn 11);Thất ngôn bát cú :bài Tự tình II-HXH (ngữ văn 11) b.Thơ lục bát -Số chữ và số câu: Một cặp hai câu thơ , câu trên 6 chữ, câu dưới 8 chữ. Một bài thơ có nhiều cặp lục bát, số dòng thơ không hạn định. -Gieo vần: vần ở giữa câu thơ-chữ cuối câu 6 chữ vần với chữ thứ 6 của câu 8 chữ Ví dụ: Truyện Kiều-ND. c.Thơ song thất lục bát
- -Số chữ và số câu:Khổ thơ bao gồm 4 câu một cặp bảy chữ đi với 2 câu 6 chữ và 8 chữ. Số lượng khổ thơ không hạn định. -Gieo vần chân và vần lưng. Ví dụ :Bản dịch Chinh phụ ngâm-Đoàn Thị Điểm. d. Thơ tự do -Số chữ và số câu không hạn định, câu thơ trong bài dài ngắn , linh hoạt. -Gieo vần: vần chân, vần liền, vàn cách. Ví dụ: Đất Nước –NKĐ, Vội vàng-XD, Đàn ghi ta của lorca-TT e.Một số thể thơ khác -Thể thơ 4 chữ, thơ 5 chữ, thơ 7 chữ, thơ 8 chữ. -Các câu thơ nối tiếp nhau. -Thường thì 4 câu thơ làm thành 1 khổ thơ. Ví dụ: Sóng-XQ(5 chữ), Tràn giang-HC, Đây thôn Vĩ Dạ -HMT (7 chữ) . 8.Các biện pháp tu từ. *.Một số biện pháp tu từ từ vựng. a.So sánh: -SS là đối chiếu sự vật, sự việc này, với sự vật, sự việc khác trên cơ sở quan hệ tương đồng tăng sức gợi hình , gợi cảm cho sự diễn đạt.SS giúp cho việc miêu tả các sự vật , sự việc cụ thể, sinh động, vừa có tác dụng bộc lộ cảm xúc. Vi dụ: Đoạn thơ: “ Con gặp lại ..bỗng gặp cánh tay đưa” (Tiếng hát con tàu-CLV) =>BP ss nhằm diễn tả niềm hạnh phúc lớn lao, kì diệu khi về với nhân dân b. Ẩn dụ -Gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đông với nó. Ví dụ: “Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” =>Những hình ảnh ẩn dụ miêu tả , ca ngợi nhan sắc của TK: Đôi mắt trong trẻo, long lanh như nước mùa thu, nét mày tươi thắm như núi mùa xuân. c.Hoán dụ -Gọi tên sự vật, khái niệm bằng tên của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi nhằm khắc sâu đặc điểm của đối tượng. Ví dụ: “Áo chàm đưa buổi phân li/Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. =>Áo chàm: chỉ đồng bào VB, gợi cảnh chia tay xúc động .. d.Nhân hóa. -Dùng những từ ngữ , hình ảnh gắn với con người để gọi hoặc tả các đồ vật, con vật, tả cảnh làm cho đối tượng trở nên sinh động . Ví dụ: “Trời thu thay áo mới/ Trong biếc nói cười thiết tha”.(Đất Nước-NĐT) =>Tâm trạng hân hoan của con người trong niềm vui thắng lợi. e.Điệp từ, điệp ngữ -Là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh hoặc mở rộng ý, khơi gợi cảm xúc Ví dụ: “Một dân tộc đã gan góc ..một dân tộc đã đứng về phe đồng minh .dân tộc đó phải được dân tộc đó phải được độc lập”. (Tuyên ngôn đl-HCM) =>Giongj điệu mạnh mẽ hào hùng, tinh thần, ý chí chiến đấu bền bỉ, phi thường của nhân dân ta g.Nói quá
- -Là biện pháp phóng đại quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. Ví dụ: “Gươm mài đá đá núi phải mòn/Voi uống nước, nước sông phải cạn”. (Bình Ngô đâị cáo-NT) =>Ca ngợi sức mạnh hùng hậu, vô đich của nghĩa quân Lam Sơn. h.Nói giảm , nói tránh -Là cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác đau buồn, ghê sợ, thô tục, thiếu lịch sự. Ví dụ: “Áo bào thay chiếu anh về đất”.(Tây Tiến –QD) =>Anh về đất.có tác dụng làm vợi bớt nỗi đau mmats mát và ca ngợi sự bất tử của người lính hi sinh vì tổ quốc. *.Một số biện pháp tu từ cú pháp. a.Câu hỏi tu từ -Dạng câu nghi vấn để khẳng định, phủ định hoặc bày tỏ cảm xúc. Ví dụ:Sao anh không về chơi Thôn Vĩ?(Đây thôn Vĩ Dạ-HMT) =>Là lời trách, lời mời , lời hỏi thăm .. b.Đảo trật tự cú pháp -Là cách làm thay đổi trật tự cú pơhaps thông thường của câu nhằm nhấn mạnh tính chất , đặc điểm của đối tượng cần miêu tả. Ví dụ: Xiên ngang mặt đất rêu từng đám/ Đâm toạc chân mây đá mấy hòn(Tự tình II-HXH) =>Sự phản kháng của sự vật, hay chính là sự phản kháng của con người. c.Liệt kê -Là sắp xếp các đơn vị cú pháp cùng loại nhằm nhấn mạnh ý. Ví dụ: Những sông, những núi, những đèo tàu qua(Hát với con tàu-XQ) =>Hành trình của con tàu trải dài qua những không gian rộng lớn mmeenh mông của đất nước d.Điệp cấu trúc -Cấu trúc câu được lặp lại ở các dòng thơ hoặc các câu văn nhằm nhấn mạnh ý. Ví dụ;Trời xanh đay là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta.(Đất Nước –NĐT) =>Nhấn mạnh , khẳng định niềm tự hào làm chủ quê hương đất nước. IV. Bài tập thực hành: 1.Bài 1: Đọc các văn bản sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4: “Sáng 9-10-2017, thông tin thầy giáo Văn Như Cương - người truyền lửa học tập, học làm người của nền giáo dục Việt Nam - qua đời đã tràn ngập trên báo chí và mạng xã hội Thầy coi học trò như con cháu trong nhà, những lời thầy nhắn gửi như là lời truyền đạt của thế hệ đi trước, tóc đã bạc nhưng tâm hồn mãi trẻ, mãi nhiệt huyết, mãi đau đáu với sự nghiệp giáo dục. Thầy từng nói: "Các em có thể trở thành những người lao động chân chính, những nhà kỹ thuật có chuyên môn, những nhà nghiên cứu thành công, những doanh nghiệp tầm cỡ, những nhà lãnh đạo xuất sắc. Nhưng trước hết phải là người tử tế". (Nguồn: Báo điện tử Tuoitre.vn, ngày 9/10/2017) Câu 1.Nêu phương thức biểu đạt chính của văn bản? Câu 2. Chỉ ra biểu hiện và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp liệt kê trong câu: Thầy từng nói: "Các em có thể trở thành những người lao động chân chính, những nhà kỹ thuật có chuyên môn, những nhà nghiên cứu thành công, những doanh nghiệp tầm cỡ, những nhà lãnh đạo xuất sắc. Nhưng trước hết phải là người tử tế"
- Câu 3. Xác định từ láy và nêu tác dụng từ láy trong câu: “Thầy coi học trò như con cháu trong nhà, những lời thầy nhắn gửi như là lời truyền đạt của thế hệ đi trước, tóc đã bạc nhưng tâm hồn mãi trẻ, mãi nhiệt huyết, mãi đau đáu với sự nghiệp giáo dục”. Câu 4. Thông điệp mà anh chị tâm đắc nhất qua văn bản là gì? Nêu lí do chọn thông điệp đó. GỢI Ý TRẢ LỜI 1.Phương thức biểu đạt chính : tự sự. 2. - Biểu hiện của biện pháp liệt kê: những người lao động chân chính, những nhà kỹ thuật có chuyên môn, những nhà nghiên cứu thành công, những doanh nghiệp tầm cỡ, những nhà lãnh đạo xuất sắc; người tử tế . - Hiệu quả nghệ thuật: nhằm diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau về sự thành đạt trong tương lai của học sinh mà thầy đã đặt niềm hy vọng. Đồng thời nhấn mạnh lời khuyên làm người tử tế là quan trọng nhất. 3. - Từ láy: đau đáu - Trong câu trích, từ đau đáu thể hiện vẻ đẹp nhân cách của thầy giáo Văn Như Cương. Thầy luôn luôn trăn trở, lo lắng cho sự nghiệp giáo dục 4. Học sinh có thể trình bày và lí giải thông điệp tâm đắc nhất theo ý riêng, không vi phạm chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Sau đây là vài gợi ý : - Làm người trước hết phải là người tử tế. - Hãy biết sống tốt với mọi người xung quanh, chứ không chỉ biết đến cá nhân mình. 2. bài tập 2: a. Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: - Nín đi em, bố mẹ bận ra tòa! Chị lên bảy dỗ em trai ba tuổi Thằng bé khóc, bụng chưa quen chịu đói Hai bàn tay xé áo chị đòi cơm. Bố mẹ đi từ sáng, khác mọi hôm Không nấu nướng và không hề trò chuyện Hai bóng nhỏ hai đầu ngõ hẻm Cùng một đường sao chẳng thể chờ nhau? Biết lấy gì dỗ cho em nín đâu Ngoài hai tiếng ra tòa vừa nghe nói Chắc nó nghĩ như ra đồng, ra bãi Sớm muộn chi rồi bố mẹ cũng về... ( trích bài thơ Hai chị em, Vương Trọng, 1985) Câu 1. Xác định thể thơ và phong cách ngôn ngữ của văn bản? Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong câu thơ Hai bóng nhỏ hai đầu ngõ hẻm? Câu 3. Anh/ chị hiểu điều gì qua hai câu thơ: Chắc nó nghĩ như ra đồng, ra bãi/Sớm muộn chi rồi bố mẹ cũng về... Câu 4. Thông điệp mà anh/ chị tâm đắc nhất qua văn bản là gì ? Nêu lí do vì sao tâm đắc thông điệp đó.(1.0đ) b. Viết đoạn văn Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về nỗi đau của những đứa trẻ trong cuộc sống hôm nay được gợi ở phần Đọc hiểu. c. Hướng dẫn trả lời.
- 1 -Thể thơ: tự do - Phong cách ngôn ngữ : nghệ thuật 2 Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ: - Biện pháp tu từ hoán dụ ( hai bóng nhỏ- chỉ hình ảnh bố mẹ) - Tác dụng: gợi hình ảnh cụ thể, gần gũi trên quan hệ tiếp cận giữa bóng và người, từ đó câu thơ gợi cảnh ra toà để li hôn, báo hiệu sự tan vỡ của hạnh phúc gia đình. 3 Cách hiểu hai câu thơ: Chắc nó nghĩ như ra đồng, ra bãi/Sớm muộn chi rồi bố mẹ cũng về...: - Đó là suy nghĩ thể hiện sự ngây thơ, trong sáng của hai đứa trẻ. Các em càng ngây thơ, người đọc, người nghe càng xót xa, đau đớn trước tình trạng li hôn trong cuộc sống; - Đó cũng là niềm khao khát mái ấm gia đình của trẻ thơ. 4 Học sinh có thể trình bày và lí giải thông điệp tâm đắc nhất theo ý riêng, không vi phạm chuẩn mực đạo, pháp luật và có lí giải hợp lí. Sau đây là vài gợi ý: - Gia đình là tổ ấm duy nhất của mỗi con người - Hãy đem lại hạnh phúc cho trẻ thơ a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ Có đủ các phần mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, phát triển đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề. ( Nếu HS viết từ 2 đoạn trở lên thì không cho điểm cấu trúc) b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận về một hiện tượng đời sống: nỗi đau của những đứa trẻ trong cuộc sống hôm nay. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; các phương thức biểu đạt, nhất là nghị luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động. Cụ thể: c.1. Câu mở đoạn: Dẫn ý liên quan để nêu vấn đề cần nghị luận. c.2. Các câu phát triển đoạn: - Nêu biểu hiện: Trong đoạn thơ, nỗi đau khổ của hai chị em chính là sống trong cảnh bố mẹ ra toà li hôn. Ngoài ra, trẻ em còn chịu nhiều nỗi đau khác như nạn bạo hành, bị xâm hại, bị bóc lột sức lao động, Đây là một hiện tượng xã hội đáng báo động. -Bàn luận, phân tích, chứng minh: + Hậu quả: những đứa trẻ có bố mẹ li hôn sẽ trở nên trầm cảm, tự kỷ, xa lánh cuộc sống, thậm chí sa ngã, hư hỏng, trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội; những em bị bạo hành sẽ bị tổn thương về thể xác và tâm hồn +Nguyên nhân: do thiếu vắng tình thương, sự chăm sóc, dạy dỗ, nuôi dưỡng của cha mẹ. Việc ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột đối với trẻ em chưa được cộng đồng chủ động phát hiện sớm và báo cho các cơ quan chức năng xử lý, can thiệp kịp thời c.3. Câu kết đoạn: đưa ra bài học nhận thức và hành động phù hợp d. Sáng tạo Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. ( Sai từ 2 lỗi trở lên sẽ không tính điểm này)
- I. CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN 1.1.Lí thuyết về đoạn văn – Về nội dung: + Đoạn văn là một phần của văn bản, nó diễn đạt ý hoàn chỉnh ở một mức độ nào đó logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng. + Tuy nhiên, đoạn văn Nghị luận xã hội 200 chữ cần bám sát yêu cầu của đề và dựa trên nội dung/ thông điệp ở phần đọc hiểu. – Về hình thức: Đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể hiện ở những điểm sau: Một đoạn văn được bắt đầu từ chữ cái viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng. – Cấu trúc một đoạn văn: + Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề: ++ Từ ngữ chủ đề : là các từ ngữ được lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt. ++ Câu chủ đề: là câu nêu lên ý chính của toàn đoạn, mang nội dung khái quát, ý nghĩa ngắn gọn. Thường đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn. + Các câu trong đoạn: ++ Có nhiệm vụ triển khai và làm rõ chủ đề của đoạn ++ Trình bày theo các phép diễn dịch, quy nạp, song hành 1.2. Cách viết đoạn theo yêu cầu của đề a. Xác định và đáp ứng các yêu cầu của đề – Về nội dung: Đề bài có thể trích dẫn hoặc không trích dẫn câu văn trong phần đọc hiểu. Điều quan trọng là các em cần hiểu yêu cầu của đề và xác định hướng đi đúng đắn. + Thứ nhất: Phải xác định được Đề bài yêu cầu viết về vấn đề gì? (nội dung của đoạn văn). Đây là yêu cầu quan trọng nhất, đòi hỏi người viết phải bày tỏ quan điểm cá nhân rõ ràng. Cụ thể: Người viết hiểu vấn đề đó là gì (giải thích), tại sao lại nói như thế (phân tích). + Thứ hai: Cần phải có dẫn chứng thuyết phục bằng các ví dụ cụ thể trong đời sống. + Thứ ba: Phải đánh giá và nêu thái độ của người viết trước vấn đề đang bàn luận. Cần nêu ra những bài học nhận thức sau khi bàn luận. Từ đó, đề xuất những giải pháp thiết thực và khả thi cho bản thân mình và tất cả mọi người. Đối với dạng “đề nổi” , học sinh có thể dễ dàng nhận ra phạm vi nội dung và phương pháp lập luận. Đối với dạng đề chìm, học sinh phải tự mày mò hướng đi. Ví dụ : + Viết 1 đoạn văn 200 chữ về sự hi sinh thầm lặng của mẹ trong cuộc sống ngày hôm nay ( đề nổi) . Học sinh dễ dàng xác định phạm vi nội dung : Thế nào là sự hi sinh thầm lặng ? biểu hiện của sự hi sinh thầm lặng ? tác dụng ? phê phán những người con bất hiếu, bài học rút ra cho bản thân, + Viết 1 đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh chị về ý nghĩa câu chuyện được trích dẫn ở phần đọc hiểu : NGƯỜI ĂN XIN Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi. Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay nóng hổi của ông: – Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả. Ông nhìn tôi chăm chăm đôi môi nở nụ cười: Cháu ơi,cảm ơn cháu!Như vậy là cháu đã cho lão rồi. Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông. (Theo Tuốc- ghê- nhép)
- Với đề bài này, học sinh cần hiểu ý nghĩa câu chuyện, xác định vấn đề nghị luận và thao tác lập luận chủ yếu. HS tự do bày tỏ cảm nhận của bản thân: – Có thể HS trình bày về giá trị của tình yêu thương, sự đồng cảm trong cuộc sống. – Có thể HS trình bày bài học về một thái độ, cách ứng xử, ý thức cho và nhận của con người trong cuộc sống – Có thể HS trình bày lời chia sẻ với những số phận bất hạnh Hoặc đôi khi đề bài trích dẫn 1 câu văn trong đề đọc hiểu và yêu cầu học sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ, ví dụ như đề thi minh họa của Bộ GD ( sẽ nói kĩ ở phần sau). – Về hình thức: + Thứ nhất :Đề bài yêu cầu viết đoạn văn 200 chữ, học sinh cần trình bày trong 1 đoạn văn (không được ngắt xuống dòng), dung lượng an toàn khoảng 2/3 tờ giấy thi ( khoảng trên dưới 20 dòng viết tay), có thể nhiều hơn 1 vài dòng cũng không bị trừ điểm. Đoạn văn cần diễn dạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. + Thứ hai: Đoạn văn phải đảm bảo bố cục ba phần: Đặt vấn đề – Giải quyết vấn đề – Kết thúc vấn đề. + Thứ ba: Đoạn văn sử dụng các thao tác lập luận: Giải thích – Phân tích – Chứng minh – Bình luận – Bác bỏ – Bình luận mở rộng. Diễn đạt phải trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. b. Tìm ý cho đoạn văn: – Xác định sẽ viết những nội dung cụ thể gì (ý chính)? – Ghi ra giấy nháp những ý chính của đoạn văn (theo hệ thống các thao tác lập luận). – Việc tìm ý cho đoạn văn sẽ giúp ta hình dung được những ý chính cần viết, tránh tình trạng viết lan man dài dòng, không trọng tâm. c. Các bước viết đoạn văn hoàn chỉnh : – Sau khi tìm được những ý chính cho đoạn văn, chúng ta tiến hành viết câu mở đầu. + Câu mở đầu có nhiệm vụ dẫn dắt vấn đề. + Đối với đoạn văn trong đề đọc hiểu, nên dẫn dắt từ nội dung/ câu nói của văn bản được trích dẫn. – Đoạn văn có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cách đơn giản nhất là trình bày theo kiểu diễn dịch: + Tức là câu chủ đề nằm ở đầu đoạn (thường là lời bày tỏ ý kiến đánh giá, nhận xét câu nói/ vấn đề). + Các câu sau triển khai ý, làm rõ ý của câu mở đầu (ý kiến đánh giá, nhận xét câu nói/ vấn đề). – Viết các câu nối tiếp câu mở đầu : + Dựa vào các ý chính vừa ghi trên giấy nháp, chúng ta tiến hành viết đoạn văn. + Các câu nối tiếp lần lượt sử dụng các thao tác lập luận: Giải thích – Phân tích – Chứng minh – Bình luận – Bác bỏ – Bình luận mở rộng. + Lưu ý cách diễn đạt và lỗi chính tả. – Viết câu kết của đoạn văn : + Câu kết của đoạn có nhiệm vụ kết thúc vấn đề. + Dù đoạn văn dài hay ngắn thì câu kết cũng giữ vai trò quan trọng, để lại ấn tượng cho người đọc. + Câu kết có thể nêu cảm xúc cá nhân, mở rộng vấn đề (nêu bài học chung), hoặc tóm lược vấn đề vừa trình bày – Lưu ý: + Cần trình bày quan điểm cá nhân nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. + Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố
- biểu cảm, ) . Tóm lại: – Để tìm được ý cho đoạn văn, cần xem xét vấn đề ở nhiều góc độ. Cách đơn giản nhất là thử đặt ra và trả lời các câu hỏi: + Nó (vấn đề) là gì? Nó (câu nói) như thế nào? + Tại sao lại như thế? + Điều đó đúng hay sai, hay vừa đúng vừa sai? + Nó được thể hiện như thế nào (trong văn học, trong cuộc sống)? + Điều đó có ý nghĩa gì đối với cuộc sống, với con người, bản thân ? + Cần phải làm gì để thực thi/hạn chế vấn đề/câu nói? – Từ việc đặt ra và trả lời các câu hỏi trên, có thể hình dung một đoạn văn nghị luận cần được triển khai theo ba bước: + Thứ nhất: Giải thích. ++ Trước tiên, cần giải thích nghĩa cụ thể của các một số từ ngữ, khái niệm còn ẩn ý hoặc chưa rõ nghĩa. ++ Sau đó giải thích ý nghĩa cả câu nói. + Thứ hai: Phân tích và chứng minh. ++ Lí giải vấn đề, làm sáng tỏ vấn đề. ++ Dẫn ra các ví dụ về những con người và sự việc cụ thể trong đời sống, xã hội, lịch sử + Thứ ba: Bình luận, đánh giá, mở rộng. ++ Khẳng định lại chân lí (bình luận, đánh giá). ++ Mở rộng và nâng cao vấn đề: Phê phán những hiện tượng đi ngược lại chân lí; Liên hệ bản thân để rút ra bài học. Cấu trúc đoạn 200 chữ theo yêu cầu đề thi: – Câu mở đoạn: Giới thiệu vấn đề (khoảng 2 – 4 dòng). – Các câu phát triển đoạn: (12 – 16 dòng). Vận dụng các thao tác: + Giải thích (Câu nói nêu lên vấn đề gì?) + Lí giải (Vì sao lại nói như thế?) + Dẫn chứng (Họ đã làm thế nào?) + Bình luận (Vấn đề đúng hay sai hay vừa đúng vừa sai?) + Bác bỏ (Hiện tượng trái ngược cần phê phán là gì?) – Câu kết đoạn: Rút ra bài học. (Bản thân và mọi người cần phải làm gì?) (2 – 4 dòng) – Trong đoạn văn nghị luận xã hội, bên cạnh việc cắt nghĩa, lí giải, đánh giá vấn đề là điều cần thiết thì khâu chứng minh cũng rất quan trọng. Để đoạn văn nghị luận xã hội hấp dẫn, sinh động, cần có hệ thống dẫn chứng thích hợp. * Lưu ý: - Đó phải là những dẫn chứng lấy ra từ đời sống thực tế, càng xác thực, càng cụ thể càng có sức thuyết phục cao. - Hạn chế lấy dẫn chứng từ tác phẩm văn học. - Khi đưa dẫn chứng vào, không kể lan man mà nên thuật lại một cách ngắn gọn, nhấn mạnh vào khía cạnh ứng dụng của dẫn chứng đối với vấn đề đang chứng minh. Đưa dẫn chứng phải kèm theo thái độ, quan điểm đánh giá rõ ràng. - Khi liên hệ thực tế để rút ra bài học: cần bày tỏ thái độ chân thành, nghiêm túc, tránh cách nói sáo mòn, gượng ép, giả tạo, “công thức”. II. HAI LOẠI ĐOẠN VĂN THƯỜNG GẶP 2.1. Dạng 1: Bàn luận về một tư tưởng, đạo lí
- – Đề bài thường trích một câu trong đọc hiểu để yêu cầu thí sinh bày tỏ ý kiến, bàn luận. Cũng có những đề bài không trích dẫn văn bản mà trực tiếp nên vấn đề cần nghị luận. Để nắm vững phần này, các em nên ÔN TẬP THEO CHỦ ĐỀ. Các vấn đề từ câu nói thường yêu cầu bàn luận như: + Nhận thức: lí tưởng, khát vọng, niềm đam mê, mục đích sống + Phẩm chất: lòng yêu nước, tính trung thực, lòng dũng cảm, sự khiêm tốn, sự tự học, lòng ham hiểu biết, sự cầu thị + Quan hệ gia đình: tình mẫu tử, tình anh em + Quan hệ xã hội: tình bạn, tình thầy trò, tình đồng bào + Cách ứng xử của mọi người trong cuộc sống: lòng nhân ái, thái độ hòa nhã, sự vị tha + Các tư tưởng lệch lạc, tiêu cực: ích kỉ, thực dụng, dối trá, hèn nhát a. Cấu trúc chung của đoạn văn: * Mở đoạn: (khoảng 2 dòng) - Dẫn dắt vào vấn đề - Trích dẫn câu nói. * Thân đoạn: Bước 1: Giải thích ý nghĩa câu nói/ vấn đề Yêu cầu: + Chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh còn ẩn ý hoặc chưa rõ nghĩa. + Phải đi từ yếu tố nhỏ đến yếu tố lớn: giải thích từ ngữ, hình ảnh ẩn ý trước rồi mới khái quát ý nghĩa của cả câu nói. + Nên dựa vào nôi dung phần Đọc hiểu để giải thích ý nghĩa, tránh suy diễn tùy tiện. Bởi vì có những câu nói khi đứng độc lập thì nó có ý nghĩa khác so với nghĩa trong văn cảnh Nếu đề bài không trích dẫn câu nói thì chỉ cần giải thích ngắn gọn khái niệm/ vấn đề cần bàn luận. Bước 2: Bình luận, nêu quan điểm của cá nhân (thấy đúng, sai hay cả đúng cả sai). Lý giải quan điểm đó (Vì sao đúng? Vì sao sai?) Yêu cầu: + Phân tách các vế của câu nói để xem xét cặn kẽ, thấu đáo. + Khi bàn luận, cần có căn cứ khách quan. Bước 3: Minh chứng bằng các dẫn chứng, ví dụ cụ thể (Biểu hiện như thế nào?) Yêu cầu: + Dẫn chứng phải tiêu biểu, hợp lí, phục vụ cho việc bàn luận. + Nên kết hợp dẫn chứng lịch sử – hiện tại, trong nước – ngoài nước, người nổi tiếng – người bình thường sao cho phong phú và có sức thuyết phục. + Có 4 cách nêu dẫn chứng: ++ Cách 1: nêu số liệu (Ví dụ: số liệu về người mắc ung thư do thực phẩm bẩn). ++ Cách 2: nêu hiện tượng hiển nhiên, không thể chối cãi (Ví dụ: thủng tầng ô-zôn khiến bầu khí quyển bị ảnh hưởng) ++ Cách 3: nêu tấm gương điển hình, nổi tiếng (Ví dụ: Walt Disney, Bill Gate ) ++ Cách 4: nêu lời nói của một người nổi tiếng (Ví dụ: Nhà văn Mark Twain từng nói: “Không có gì buồn hơn tiếng thở dài của người còn trẻ mà đã bi quan). Bước 4: Luận bàn mở rộng vấn đề: Phê phán điểm hạn chế, phân tích mặt tích cực. Bước 5: Áp dụng tư tưởng đạo lí vào trong thực tế: Nêu bài học nhận thức và hành động (Cần phải làm gì?) Yêu cầu: + Bài học phải được rút ra từ chính tư tưởng, đạo lí mà đề bài yêu cầu bàn luận.
- + Bài học cần chân thành, giản dị, hướng tới tuổi trẻ, không sáo rỗng, hình thức. + Nên rút ra hai bài học, một bài học về nhận thức, một bài học về hành động. * Kết đoạn: Đưa ra một thông điệp hay một lời khuyên cho mọi người. Lưu ý : Có những dạng “đề nổi” , xác định rõ phạm vi nội dung bài viết. Các em cần xác định rõ đâu là luận điểm chính, đâu là luận điểm phụ , không phải tất cả các bước đều triển khai dung lượng như nhau. Ví dụ : Bàn về vai trò của lòng khoan dung Với đề bài này, sau khi giải thích khái niệm, biểu hiện, các em cần làm rõ vai trò của lòng khoan dung trong cuộc sống. Đây là luận điểm chính, then chốt của bài viết. VÍ DỤ MINH HỌA Đề thi minh họa năm 2017 của Bộ giáo dục: Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về câu nói: “Leo lên đỉnh cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các em”. Gợi ý: – Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề (Thầy hiệu trưởng đã có câu nói: “Leo lên các em.”) – Phát triển đoạn: + Giải thích câu nói: (Câu nói khẳng định điều gì?) (“Leo lên đỉnh núi cao” có thể hiểu là sự chinh phục những thử thách, chiếm lĩnh những tầm cao của con người chúng ta. Còn “nhìn ngắm thế giới” là sự quan sát, phát hiện sự lớn lao cũng như tận hưởng những vẻ đẹp của thế giới, của cuộc sống xung quanh. “Thế giới nhận ra các em” nghĩa là sự ghi nhận của mọi người. Câu nói của thầy hiệu trưởng đã khẳng định thái độ đúng đắn của con người khi vươn tới tầm cao, đạt được mục đích lớn lao: không phải để khẳng định thành tích mà là phải xem đó là cơ hội để trải nghiệm, nhìn ngắm thế giới ở tầm cao hơn, rộng hơn, khái quát hơn .) + Bàn luận: Phân tích, lí giải, chứng minh ý nghĩa câu nói: Vì sao ta phải “Leo lên đỉnh núi cao”? Chinh phục những đỉnh cao trong cuộc sống – dù không dễ dàng – nhưng là khát vọng cao cả, là cách thể hiện bản thân, thể hiện bản lĩnh mỗi người. Khi lên tới đỉnh cao, ta sẽ nhìn lại được khả năng của chính mình, có thêm nhiều kinh nghiệm mới. Vì sao “Leo lên đỉnh núi cao” là ta có thể “ngắm nhìn thế giới”? Mỗi hành trình vươn đến đỉnh cao đều chứa đựng những bí ẩn thú vị, mà đi đến tận cùng, người ta mới thấu hiểu. Ở tầm cao, người ta sẽ ngắm nhìn thế giới rộng hơn, khái quát hơn và chính xác hơn. Cuộc sống không ngừng vận động, nên muốn tiến bộ, phát triển, phải nhìn ngắm thế giới hằng ngày. Đây là cái đích của sự chinh phục những đỉnh cao trong cuộc đời. Vì sao “Leo lên đỉnh núi cao” là “không phải để thế giới nhận ra” mình? Nếu coi việc chinh phục đỉnh cao là để được mọi người ghi nhận là cái đích tối cao, con người dễ bằng lòng, thỏa mãn với những gì mình có mà không còn ý thức vươn lên nữa. Ai đã làm được điều đó – xem việc chinh phục đỉnh cao là để “nhìn ngắm thế giới”? Rất nhiều những nhà khoa học, những nhà kinh tế mà mục tiêu của họ đặt ra để phấn đấu đạt được chứ hoàn toàn không phải để người khác nhìn thấy vai trò, tài năng của họ. Như nhà bác học Ê – đi – xơn, mục tiêu của ông là thắp sáng lên cho cả thế giới. Ông đặt ra mục tiêu này để theo đuổi, cống hiến hết mình cho những điều cao đẹp của cuộc đời chứ không nhằm khẳng định tên tuổi. Cần phải phê phán những hiện tượng nào?
- Thật đáng chê trách những người không biết đặt ra những “đỉnh cao”, những mục tiêu cho bản thân mình. Những con người ấy sống cuộc sống như vô nghĩa, không chút cầu tiến, không chút tương lai. Cũng thật đáng phê phán những ai xem việc chinh phục đỉnh cao chỉ nhằm để khẳng định mình trước thiên hạ mà không vì mục tiêu chung cho mọi người. – Kết đoạn: Bài học với bản thân. (Câu nói của thầy hiệu trưởng đã cho tôi một bài học vô cùng sâu sắc. Bản thân tôi phải đặt ra mục tiêu cho chính mình và tôi cũng nghĩ rằng, chỉ có bản thân mình mới có thể hiểu được giá trị của những mục tiêu đó. Tôi không cần người khác đánh giá mà chỉ cần tôi hiểu được giá trị của chính mình – những điều tôi đang theo đuổi. Tất cả những điều đó cho tôi và cho tất cả chúng ta một cuộc sống tuyệt vời.) 2.2. Dạng 2: Bàn luận về một hiện tượng đời sống a. Phân loại : – Các hiện tượng tích cực trong đời sống: tương thân tương ái, tự học thành tài – Các hiện tượng tiêu cực trong đời sống: ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn, tai nạn giao thông, gian lân trong thi cử – Các hiện tượng hai mặt: đam mê thần tượng, du học rồi ở lại nước ngoài, mạng xã hội b. Dàn ý chung: – Mở đoạn: + Dẫn dắt vào hiện tượng. + Nêu thái độ đánh giá về hiện tượng. – Thân đoạn: + Bước 1: Nêu rõ thực trạng, các biểu hiện cụ thể của hiện tượng trong đời sống (Nó như thế nào?) + Bước 2: Nêu nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (Nguyên nhân khách quan và chủ quan; Nguyên nhân sâu xa và trực tiếp). + Bước 3: Nêu thái độ đánh giá, nhận định về mặt đúng – sai, lợi – hại, kết quả – hậu quả, biểu dương – phê phán. + Bước 4: Biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát huy kết quả. (Cần phải làm gì?) + Bước 5: Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động cho mình. – Kết đoạn: Đưa ra thông điệp hay lời khuyên cho tất cả mọi người. VÍ DỤ MINH HỌA Nhiều chuyên gia cho rằng sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội đang làm lo ngại về sự bùng phát của “đại dịch ái kỉ” (bệnh tự yêu mình) mà việc tự chụp ảnh và đếm “like” cho những thông tin của mình trên những trang mạng xã hội chỉ là một biểu hiện. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về hiện tượng được nêu trong ý kiến trên. Gợi ý: – Mở đoạn: Sử dụng mạng xã hội là một nhu cầu không thể thiếu trong thời đại công nghệ nhưng sự bùng phát của “đại dịch ích kỉ” do nó mang lại cũng là vấn đề được dư luận đặt ra. – Thân đoạn: + Giải thích, thực trạng: ++Khái niệm “ái kỉ” : là chỉ căn bệnh tự yêu bản thân mình. Đó được xem là một dạng rối loạn nhân cách khi một người có biểu hiện tự cao, ảo tưởng, thiếu đồng cảm với người khác. ++ Cùng với sự phát triển của internet là hàng loạt các trang mạng xã hội ra đời như twitter,
- zalo, vaber, facebook kéo theo trào lưu sống ảo, đăng các thông tin, dòng trạng thái hay ảnh cá nhân để “khoe” với cộng đồng mạng. + Nguyên nhân: ++Chứng bệnh này là nguyên nhân của lối sống xa hoa, chú trọng hình ảnh, danh tiếng. Nó là một trong những biểu hiện của lối sống “tôi là trung tâm”. ++ Nó cũng xuất phát từ việc người sử dụng mạng xã hội chưa có những nhận thức đúng đắn, dẫn đến tình trạng lạm dụng. ++ Ngoài ra, do cha mẹ ít có thời gian quan tâm, để ý đến con cái nên không quản lí được thời gian sử dụng mạng xã hội của con cái. + Hậu quả: ++ Hiện tượng này để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng như làm hình thành một thế hệ trẻ tự yêu mình, ít hòa nhập với xã hội. ++ Người nghiện điện thoại hoặc các trang mạng xã hội thường có lối sống, thái độ thiếu đồng cảm với mọi người: thay vì giao tiếp cá nhân, họ chỉ chú ý vào màn hình điện thoại để sống với thế giới ảo của mình. ++ Hơn nữa, hiện tượng này dẫn đến tình trạng con người thiếu khả năng kiểm soát những ham muốn của bản thân nên có những hành động bất thường chỉ để thỏa mãn nhu cầu cá nhân mình: ăn mặc như nhân vật mình tưởng tượng, mua sắm vật dụng cá nhân đắt tiền để chạy theo phong trào, dễ sa ngã ++ Thậm chí, đây cũng là một tâm lí dẫn đến tỉ lệ tử vong cao. + Giải pháp và bài học: ++ Mỗi cá nhân cần ý thức được ranh giới giữa thế giới ảo và thực để biết cân bằng cuộc sống. ++ Gia đình, nhà trường và xã hội cần có những biện pháp hỗ trợ giúp đỡ, định hướng cho các thành viên trong cộng đồng, nhất là giới trẻ để mỗi cá nhân có cuộc sống thật lành mạnh, hài hòa với xã hội. – Kết đoạn: Đây là hiện tượng tiêu cực do mạng xã hội gây ra nên cần ngay lập thức chấn chỉnh, thay đổi để mỗi cá nhân có cuộc sống cân bằng, lành mạnh. Đặc biệt lưu ý : Trên đây chỉ là dàn ý chung cho đoạn văn bàn về hiện tượng đời sống. Tùy vào từng đề thi cụ thể, các em cần linh hoạt khi làm bài. Có những đề thi không nhất thiết phải triển khai đầy đủ các bước, có thể nhấn mạnh vấn đề đang bàn luận. Ví dụ : Đề bài yêu cầu anh/ chị hãy bình luận về nguyên nhân và giải pháp để khắc phục hiện tượng trên. Thì chúng ta cần làm rõ nguyên nhân và đề xuất được những giải pháp đúng đắn, thuyết phục người đọc. Những luận điểm phụ chỉ là tiền đề để triển khai luận điểm chính. Tránh viết chung chung, dàn trải.

