Đề cương ôn thi môn Ngữ văn 10 - Năm học 2021-2022
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn thi môn Ngữ văn 10 - Năm học 2021-2022", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_thi_mon_ngu_van_10_nam_hoc_2021_2022.pdf
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn thi môn Ngữ văn 10 - Năm học 2021-2022
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ (Trích Chinh phụ ngâm) Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn Bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm (?) A. KIẾN THỨC CƠ BẢN I. Tác giả, dịch giả 1. Tác giả - Đặng Trần Côn, người làng Mọc, huyện Thanh Trì, Hà Nội. - Là một danh sĩ hiếu học, tài ba, sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. - Sáng tác: Ngoài Chinh phụ ngâm, ông còn một số bài thơ, phú viết bằng chữ Hán. 2. Dịch giả Vấn đề dịch giả của bản dịch hiện hành vẫn chưa rõ. Có người cho rằng đó là Đoàn Thị Điểm. Lại có thuyết cho rằng dịch giả của Chinh phụ ngâm là Phan Huy Ích. a. Đoàn Thị Điểm (1705-1748) - Hiệu là Hồng Hà cư sĩ, người làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) - Nổi tiếng thông minh từ nhỏ. - Bà lập gia đình khá muộn (năm 37 tuổi), chồng bà là Nguyễn Kiều; vừa cưới xong, Nguyễn Kiều đã đi sứ Trung Quốc. Có thể bà đã dịch Chinh Phụ Ngâm trong thời gian này. - Sáng tác: là dịch giả của Chinh phụ ngâm và Truyền kì Tân Phả. b. Phan Huy Ích (1750 – 1822) - Tự là Dụ Am, người làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh), đỗ Tiến sĩ năng 26 tuổi. - Sáng tác: Dụ Am văn tập, Dụ Am ngâm lục. II. Tác phẩm Chinh phụ ngâm 1. Hoàn cảnh sáng tác - Tác phẩm được viết vào những năm 40 của thế kỉ XVIII. Đây được coi là thời kì biến động nhất của xã hội phong kiến. Theo các tài liệu lịch sử, đầu đời Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long. Triều đình cất quân đánh dẹp, nhiều trai tráng phải từ giã người thân ra trận. - Đặng Trần Côn cảm động trước nỗi khổ đau, mất mát của con người, nhất là những người vợ lính trong chiến tranh, đã viết Chinh phụ ngâm. 2. Thể loại – Văn tự a. Thể loại - Ngâm khúc: thể thơ trữ tình dài hơi, thường được làm theo thể song thất lục bát để ngâm nga, than vãn, nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền, đau xót triền miên, day dứt. b. Văn tự - Nguyên tác: Chữ Hán, gồm 478 câu thơ, làm theo thể trường đoản cú (câu thơ dài ngắn không đều nhau). 1
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 - Bản diễn Nôm, gồm 408 câu, được viết theo thể thơ song thất lục bát. 3. Nội dung Chinh phụ ngâm là tác phẩm trữ tình dài hơi, miêu tả diễn biến tâm trạng của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến, trong đó có rất nhiều những cung bậc tình cảm luyến tiếc, nhớ nhung, lo lắng, oán trách, ước mơ, nổi bật lên là nỗi buồn rầu, đau khổ triền miên vì hạnh phúc lứa đôi, tuổi trẻ tiêu tan do chiến tranh phi nghĩa. Từ đó, tác phẩm cất lên tiếng nói tố cáo chiến tranh; khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. III. Đoạn trích 1. Vị trí - Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ bắt đầu từ câu 193 đến câu 216 của bản diễn Nôm. - Sau buổi tiễn đưa, người chinh phụ trở về, tưởng tượng nơi chiến trường xa xăm đầy chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng và ái ngại cho thân phận lẻ loi của mình. Tâm sự ấy được thể hiện sâu sắc, thấm thía trong đoạn trích này. 2. Bố cục - 8 câu đầu: Nỗi cô đơn của người chinh phụ - 8 câu tiếp: Nỗi sầu muộn của người chinh phụ - 8 câu cuối: Nỗi nhớ thương của người chinh phụ 3. Nội dung 3.1. Nỗi đau khổ của người chinh phụ sống trong cảnh cô đơn, chia lìa đôi lứa - Tám câu thơ đầu: Nỗi cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ. + Nỗi cô đơn thể hiện qua hành động một mình dạo hiên vắng, buông, cuốn rèm nhiều lần, mong tin vui mà Ngoài rèm thước chẳng mách tin. + Nỗi cô đơn thể hiện qua sự đối bóng giữa người chinh phụ và ngọn đèn khuya, vẫn chỉ là một mình mình biết, một mình mình hay. - Tám câu tiếp: Nỗi sầu muộn triền miên. + Nỗi sầu muộn thể hiện qua cảm nhận về thời gian tâm lí. Người chinh phụ như đếm từng bước thời gian nặng nề trôi mà cảm nhận một khắc giờ đằng đẵng như niên. + Để giải tỏa nỗi sầu, nàng cố tìm đến những thú vui như: soi gương, đốt hương, gảy đàn nhưng việc gì cũng chỉ là gượng. Nỗi sầu không những không được giải tỏa mà còn nặng nề hơn. - Tám câu cuối: Nỗi nhớ thương đau đáu. + Nỗi nhớ thương được thể hiện qua khao khát cháy bỏng – gửi lòng mình đến non Yên – mong được chồng thấu hiểu, sẻ chia. Mức độ nỗi nhớ được gợi lên qua các từ thăm thẳm, đau đáu, + Khao khát của nàng không được đền đáp vì sự xa cách về không gian quá lớn (đường lên bằng trời). 3.2. Ý nghĩa nhân đạo của tác phẩm qua đoạn trích - Tố cáo chiến tranh 2
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 - Thể hiện một cách nhức nhối niềm thương tiếc, oán hận khôn nguôi cho những giá trị nhân sinh đã mất: đó là tuổi trẻ, là hạnh phúc. Từ đó, khẳng định và đề cao quyền sống, khát vọng hạnh phúc lứa đôi của con người. 4. Nghệ thuật Đặc sắc nghệ thuật nổi bật của đoạn trích là miêu tả nội tâm nhân vật trữ tình, thể hiện cụ thể qua các phương diện sau: - Tả nội tâm người chinh phụ qua ngoại hình. - Tả nội tâm người chinh phụ qua hành động, cử chỉ. - Tả nội tâm qua ngoại cảnh với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình quen thuộc của văn học trung đại. - Sử dụng thể thơ song thất lục bát để diễn tả nội tâm nhân vật. Thể thơ này có đặc điểm là cấu trúc câu đối xứng, đối xứng ở hai câu thất, tiểu đối ở câu lục và câu bát, nên có âm điệu réo rắt, có cả vần chân và vần lưng xoắn xuýt và đan bện với nhau không rời. - Ngôn từ chọn lọc, nhiều biện pháp tu từ. B. LUYỆN TẬP I. Dạng đề đọc – hiểu văn bản Câu 1: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương. (Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, tr 87, Ngữ Văn 10, tập II, NXBGD năm 2006) 1. Nêu chủ đề của văn bản. 2. Các hành động dạo, thầm gieo, ngồi, buông – cuốn rèm thể hiện tâm trạng gì của người chinh phụ? 3. Sự thay đổi không gian: ngoài rèm – trong rèm và sự xuất hiện của tín hiệu đèn nói lên điều gì? Câu hỏi Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? khiến anh/ chị liên tưởng đến bài ca dao nào đã học trong chương trình Ngữ văn 10? 4. Từ chẳng được lặp lại nhiều lần trong văn bản nhằm mục đích gì? 5. Phân tích ý nghĩa các từ hoa đèn, bóng người. Hình ảnh bóng người khiến anh/ chị liên tưởng đến chi tiết nghệ thuật nào trong một câu chuyện của Nguyễn Dữ? 6. Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5-7 dòng) nêu cảm nhận của anh/ chị về tình cảnh của người chinh phụ trong văn bản. Gợi ý 1. Chủ đề của văn bản: Nỗi cô đơn của người chinh phụ có chồng đi chiến trận. 3
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 2. Các hành động dạo, thầm gieo, ngồi, buông – cuốn rèm lặp đi lặp lại không mục đích, tưởng chừng như vô nghĩa nhưng lại biểu lộ tâm tư trĩu nặng và nỗi bồn chồn, khắc khoải không biết chia sẻ cùng ai trong lòng người chinh phụ. 3. - Sự thay đổi không gian: ngoài rèm – trong rèm và sự xuất hiện của tín hiệu đèn nói lên sự thay đổi của không gian và thời gian: từ không gian bầu trời bao la rộng lớn bên ngoài chuyển sang không gian chật hẹp của gian phòng, từ thời gian ban ngày chuyển sang thời gian ban đêm. Càng ngóng trông, càng hi vọng tin tức của người chinh phu thì người chinh phụ lại càng thất vọng, càng cô đơn, lẻ bóng. Nhưng không vì thế mà lòng nàng nguôi đi nỗi mong nhớ. Bằng chứng là nỗi nhớ đã chuyển từ ngày sang đêm. - Câu hỏi Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? cho thấy chinh phụ đang kiếm tìm chút đồng cảm từ ngọn đèn khuya. Lời thơ khiến chúng ta liên tưởng đến bài ca dao Khăn thương nhớ ai, trong đó có câu: Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt. 4. Từ chẳng được lặp lại nhiều lần trong văn bản mang ý nghĩa phủ định: - Ngoài rèm thước chẳng mách tin: Từ chẳng phủ định sự tồn tại của chim thước, loài chim báo tin có người đi xa trở về. Chinh phụ ngóng bóng chim thước trên bầu trời cũng chính là ngóng trông tin chồng đi chiến trận, ngóng trông chồng trở về nhưng càng hi vọng lại càng vô vọng, tuyệt vọng. - Đèn có biết dường bằng chẳng biết: Từ chẳng góp phần thể hiện nỗi cô đơn của người chinh phụ. Chinh phụ hỏi ngọn đèn có biết tin tức của chồng nàng hay không. Hỏi để kiếm tìm sự tri âm, đồng cảm nhưng ngọn đèn vô tri làm sao hiểu được nỗi lòng trông mong chờ đợi của nàng. - Buồn rầu nói chẳng nên lời: Từ chẳng thể hiện sự tuyệt vọng trong chinh phu khi nỗi buồn chất chứa trong lòng không thể giãi bày, sẻ chia cùng ai. → Ba lần từ chẳng xuất hiện trong văn bản là ba lần nhân vật trữ tình rơi vào bi kịch thất vọng – vô vọng – tuyệt vọng của nỗi buồn đau, cô lẻ. 5. - Hoa đèn nghĩa là đầu bấc đèn dầu đã cháy thành than nhưng lại được ngọn lửa nung đỏ lên như hoa. - Bóng người: hình của người do bóng đèn hắt in trên tường nhà lúc đêm khuya. - Các hình ảnh hoa đèn, bóng người thể hiện sự lụi tàn, héo úa, mòn mỏi theo canh dài. Trong lời thơ, đây là những hình ảnh thẩm mĩ thể hiện sự lẻ loi, đơn chiếc, thao thức, ngóng trông chờ đợi đến hao gầy của nhân vật trữ tình. - Hình ảnh bóng người gợi nhắc đến chi tiết chiếc bóng của Vũ Nương in trên vách nhà trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. 6. Yêu cầu: - Hình thức: 1 đoạn văn (5-7 dòng). - Nội dung: 4
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 + Tình cảnh người chinh phụ: lẻ loi, cô đơn, một mình chốn phòng khuê ra vào trông ngóng tin chồng, mòn mỏi, đơn chiếc suốt đêm khuya vắng lặng; càng trông chờ, hi vọng, càng thất vọng, tuyệt vọng. + Tình cảnh đó hết sức đáng thương, tội nghiệp. + Bày tỏ thái độ: thương xót, đồng cảm của bản thân với người chinh phụ. Câu 2: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: Gà eo óc gáy sương năm trống, Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên. Khắc giờ đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa. Hương gượng đốt, hồn đà mê mải, Gương gượng soi, lệ lại chứa chan. Sắt cầm gượng gảy ngón đàn, Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. (Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, tr 87, Ngữ Văn 10, Tập II, NXBGD năm 2006) 1. Các từ láy eo óc, phất phơ góp phần thể hiện nỗi niềm tâm trạng gì của người chinh phụ? Gà gáy năm trống, Hòe rủ bóng bốn bên tả cảnh hay tả tình? Đó là cảnh hay tình gì? 2. Phân tích biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ: Khắc giờ đằng đẵng như niên,/Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa. 3. Chinh phụ đốt hương, soi gương, gảy đàn để làm gì? Vì sao chinh phụ gượng khi làm những việc đó? Các ý thơ hồn đà mê mải, lệ lại châu chan, dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng cho thấy chinh phụ có đạt được mục đích khi đốt hương, soi gương, gảy đàn không? 4. Đoạn thơ bộc lộ tình cảm, thái độ nào của tác giả với chinh phụ? 5. Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5-7 dòng) nêu cảm nhận của anh/ chị về cảnh ngộ đáng thương của nhân vật trữ tình trong đoạn trích. Gợi ý 1. - Từ láy eo óc: gợi âm thanh. Âm thanh đó không đơn thuần chỉ là tiếng gà gáy báo canh mà còn là âm thanh của tâm trạng nhức nhối trong lòng nhân vật trữ tình. - Từ láy phất phơ gợi hình ảnh bóng hòe lơ đãng hết dời bên này lại chuyển sang đến bên nọ. Chinh phụ nhìn bóng hòe mà như đếm từng bước thời gian nặng nề trôi. - Các hình ảnh gà gáy năm trống, hòe rủ bóng bốn bên thực chất là những hình ảnh đặc tả thời gian tâm lí. Đêm, người vợ thức nhẫn năm canh, nhìn theo bóng hòe dịch chuyển mà đếm thời gian nặng nề trôi qua. 2. 5
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 - Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ đó là: so sánh. Cách so sánh rất đặc biệt: + So sánh thứ nhất: một giờ dài như một năm. Với kiểu so sánh này, thời gian đã bị tâm lí hóa. + So sánh thứ hai: nỗi sầu dài như miền biển xa. Với kiểu so sánh này, không gian đã bị tâm lí hóa. --> Thông qua nghệ thuật so sánh, tâm trạng sầu muộn triền miên, dai dẳng của nhân vật trữ tình đã trải dài mọi không gian, thời gian, trở thành nỗi sầu bất tận, không giới hạn. 3. - Chinh phụ đốt hương, soi gương, gảy đàn để giải tỏa nỗi sầu muộn trong lòng nhưng tất cả đều miễn cưỡng, đều gượng. Nàng gượng đốt gương vì trong lòng không thanh thản, gượng soi gương vì vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai, gượng gảy đàn vì sợ dây đàn chùng hay đứt sẽ báo hiệu sự không may trong tình cảm vợ chồng. - Chinh phụ càng cố gắng tìm cách vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn, vùng vẫy khỏi nỗi bấn loạn trong lòng, nhưng rốt cuộc vẫn không thoát nổi. Nàng đành ngẩn ngơ trở về với lòng mình. Các ý thơ hồn đà mê mải, lệ lại châu chan, dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng cho thấy điều đó. 4. Đoạn thơ bộc lộ sự đồng cảm sâu sắc, nỗi niềm thương xót chân thành của tác giả đối với tâm trạng của nhân vật trữ tình. 5. - Hình thức: một đoạn văn (5-7 dòng). - Nội dung: + Nhân vật chinh phụ rơi vào cảnh ngộ rất đáng thương: chồng đi chiến trận để lại mình nàng cô đơn nơi khuê phòng trong nỗi nhớ thương, sầu muộn. + Nỗi sầu muộn của người chinh phụ triền miên theo thời gian, đằng đẵng theo không gian. + Chinh phụ càng cố gắng vượt thoát khỏi nỗi sầu muộn thì lại càng lâm vào hoàn cảnh éo le, bi kịch. Câu 3: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: Lòng này gửi gió đông có tiện? Nghìn vàng xin gửi đến non Yên. Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong. Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phùn. (Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, tr 87, Ngữ Văn 10, tập II, NXBGD năm 2006) 1. Nêu chủ đề của văn bản. 6
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 2. Giải thích ý nghĩa các từ: gió đông, nghìn vàng, non Yên. Vì sao chinh phụ lại muốn gửi nghìn vàng đến non Yên? 3. Phân tích biện pháp nghệ thuật trong câu thơ Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. 4. Tìm và phân tích giá trị các từ láy trong văn bản. 5. Xác định nhưng câu thơ là lời chinh phụ trong văn bản và cho biết giá trị biểu hiện của nó. 6. Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5-7 dòng) vận dụng các biện pháp nghệ thuật tả tâm trạng trong văn bản để miêu tả một trạng thái cảm xúc của anh/ chị. Gợi ý 1. Chủ đề của văn bản: Nỗi nhớ thương chồng đau đáu của người chinh phụ. 2. - Gió đông: gió mùa xuân, từ phương đông thổi đến mang theo hơi ấm; nghìn vàng: lòng thương nhớ, trân trọng quý như nghìn vàng; non Yên: núi Yên Nhiên ở Mông Cổ, xưa Đậu Hiến thời Hậu Hán đuổi giặc Bắc Thiền Vu đến núi Yên Nhiên khắc đá ghi công ở đó rồi trở về. Non Yên trong văn bản chỉ nơi chiến trận ngoài biên ải xa xôi. - Chinh phụ muốn gửi nghìn vàng đến non Yên bởi nỗi nhớ thương chồng chất chứa trong lòng, chinh phụ không thể giãi bày cùng ai được, chỉ có thể gửi ngọn gió xuân ấm áp mang nỗi nhớ nhung ấy đến người chồng đang chinh chiến nơi biên ải xa xôi, những mong được thấu hiểu, sẻ chia. 3. - Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ đó là so sánh. Nỗi nhớ thương chinh phu được so sánh với không gian vô tận, không có điểm dừng, mông lung, vời vợi. Đó là nỗi nhớ thương da diết, cháy bỏng, vừa có chiều cao vừa có chiều sâu, vừa dài vừa rộng, bao la, bất tận. Nhưng cũng đáng thương thay, nỗi nhớ thương của nàng không được đền đáp vì sự xa cách về không gian quá lớn. 4. - Mức độ của nỗi nhớ thương trong lòng người chinh phụ được nhấn mạnh qua những từ láy toàn phần thăm thẳm và đau đáu. + Thăm thẳm vừa là nói nỗi nhớ người yêu, vửa là con đường đến chỗ người yêu, cũng là con đường lên trời. Chưa khi nào trong văn học Việt Nam, nỗi nhớ chồng được thể hiện một cách da diết, sâu thẳm, mênh mang, cao vời vợi đến thế. + Đau đáu: nỗi nhớ thương sâu sắc, thường trực, không ngưng nghỉ trong lòng người chinh phụ. 5. - Gần như toàn bộ số câu thơ trong văn bản là tiếng lòng của người chinh phụ (trừ hai câu cuối), nàng tự nói với lòng mình và nói với chồng nơi biên ải xa xôi. Nỗi lòng người chinh phụ đã vụt ra khỏi phạm vi tâm trạng một con người, trở thành tiếng nói thay cho bao người phụ nữ khác cùng chung số phận như nàng. 7
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 - Tác giả dường như đã nhập thân vào nhân vật của mình để nói lên cảnh ngộ, tâm trạng đáng thương của nhân vật. Lời thơ thể hiện sự đồng cảm sâu sắc, tấm lòng xót thương đến tột cùng của người nghệ sĩ. 6. - Hình thức: một đoạn văn (5-7 dòng). - Nội dung: Học sinh vận dụng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong đoạn trích (câu hỏi tu từ, tả cảnh ngụ tình, so sánh, ) để miêu tả một trạng thái tâm lí của bản thân (nỗi buồn, niềm vui, cảm giác hối hận, niềm tự hào, ) II. Dạng đề nghị luận văn học Câu 1: Cảm nhận về tâm trạng của người chinh phụ trong 8 câu thơ: Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Buồn rầu nói chẳng nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương. (Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, tr 87, Ngữ Văn 10, tập II, NXBGD năm 2006) Gợi ý 1. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích và vấn đề cần nghị luận (nỗi cô đơn của người chinh phụ được thể hiện trong đoạn thơ cần phân tích). 2. Thân bài a. Giới thiệu: hoàn cảnh sáng tác, nội dung tác phẩm, vị trí trích đoạn, tóm lược nội dung đoạn trước, giới thiệu hoàn cảnh của người chinh phụ (Sau khi người chinh phu lên đường, người chinh phụ trở về buồng cũ chiếu chăn, nơi cánh cửa ngày ngày trông ngóng tin tức của chồng ngoài chân mây. Sự chờ đợi mỏi mòn khiến người chinh phụ héo hon lệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo) b. Phân tích: - Không gian người chinh phụ xuất hiện: hiên vắng, rèm thưa: không gian khuê phòng vắng vẻ, tù túng, cô quạnh, chật hẹp. - Trong không gian ấy, tâm trạng của người chinh phụ được bộc lộ qua: + Những hành động lặp đi lặp lại thật vô nghĩa bế tắc: . Bước chân âm thầm trên hiên vắng dạo hiên vắng thầm gieo từng bước. Người chinh phụ vừa đi vừa nghe tiếng vọng lại từ chính bước chân của mình. Từ gieo đâu chỉ là thầm gieo bước chân mà còn gợi liên tưởng tới những giọt nước mắt âm thầm rơi vào cõi lòng. . Động tác rủ thác đòi phen, buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên, diễn ra vô thức, diễn tả trạng thái thẫn thờ, thờ ơ với tất thảy xung quanh. Tấm rèm là hình ảnh lặp lại trong khổ thơ tới ba lần (ngồi rèm, ngoài rèm, trong rèm), nó vừa là vật để ngăn cách 8
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 người chin phụ với thế giới bên ngoài vừa gợi lên trạng thái tù đọng, ngột ngạt, không lối thoát của người phụ nữ nơi phòng khuê quanh ra quẩn vào. + Hình ảnh: chim thước và ngọn đèn. . Ngoài rèm thước chẳng mách tin đã diễn tả tâm trạng mong ngóng để rồi thất vọng của người chinh phụ. . Cặp từ ngoài – trong đã diễn tả trạng thái loay hoay, khổ sở, hết đứng lại ngồi, đi đi lại lại, ra ngẩn vào ngơ, hi vọng rồi thất vọng. Đó là trạng thái quẩn quanh, bế tắc trong nỗi cô đơn mà không thể nào vượt thoát ra được. . Nàng tìm đến ngọn đèn là vật vô tri vô giác nhưng đồng hành gắn bó chung thủy với sự chờ đợi của nàng. Nhưng liệu đèn có thể chia sẻ? Nếu như ở đoạn trước hình ảnh tấm rèm trở đi trở lại gợi lên không gian khuê phòng chật hẹp, tù túng thì hình ảnh ngọn đèn lúc này lại gợi lên cảm giác về thời gian từ ngày sang đêm, nỗi cô đơn như tăng lên vì người chinh phụ chỉ có chiếc đèn làm bạn. + Độc thoại nội tâm: Hỏi đèn nhưng lại tự trả lời. Bởi lẽ đèn kia lại là vật vô tri vô giác, không thể nói, không thể an ủi hay lau nước mắt cho người chinh phụ, ngược lại nó càng soi rõ hơn căn phòng trống trải và nỗi cô đơn không thể khỏa lấp. Câu thơ Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi là lời than trực tiếp, giống như một tiếng kêu thương của nhân vật. + Vẻ mặt và trạng thái của người chinh phụ: Buồn rầu nói chẳng nên lời/ Hoa đèn kia với bóng người khá thương. Vẻ mặt buồn rầu, ngồi lặng lẽ. Đôi mắt đăm đăm nhìn vào ngọn đèn từ khi nó còn đầy dầu ăm ắp cho tới khi nó chỉ còn là hoa đèn sắp tàn mà người chinh phụ vẫn giữ nguyên một tư thế khác nào đã hóa đá. Hình ảnh người chinh phụ một mình trong ngọn đèn khuya đã từng xuất hiện trong ca dao: Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt Sau này, Nguyễn Du cũng từng miêu tả Thúy Kiều một mình với ngọn đèn: Khi tỉnh rượu lúc tàn canh/ Giật mình mình lại thương mình xót xa”. Những câu thơ này đã diễn tả nỗi cô đơn không thể chia sẻ cùng ai. Đối diện với ngọn đèn vô tri là đối diện với chính mình. Hình ảnh chiếc bóng in lên vách vò võ suốt đêm dài cũng có nghĩa là với người chinh phụ, một đêm nữa đã thành đêm trắng. Tình cảnh này thật đáng thương. c. Đánh giá: - Nội dung: + 8 câu thơ đã khắc họa nỗi cô đơn của người chinh phụ trong khuê phòng trống vắng. Người chinh phụ ý thức rất rõ nỗi cô đơn của mình nghĩa là nàng còn rất thiết tha hạnh phúc. + Qua đó, có thể thấy được sự đồng cảm sâu sắc của nhà thơ với những nỗi niềm thầm kín bên trong của con người. Và đó chính là giá trị nhân đạo đáng quý của tác phẩm. + Vì đâu mà nàng cô đơn? Vì chiến tranh phi nghĩa khiến vợ chồng li biệt. Từ đó, tác giả cất lên tiếng nói tố cáo chiến tranh. - Nghệ thuật: + Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật: kết hợp miêu tả ngoại cảnh, hành động với miêu tả trực tiếp nội tâm qua lời độc thoại của nhân vật. 9
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 + Thể thơ song thất lục bát với những thủ pháp nghệ thuật như điệp ngữ, cấu trúc phủ định tạo cho lời thơ giọng điệu bi thương, oán trách, phù hợp diễn tả trạng thái cô đơn, bế tắc của con người. 3. Kết bài: Khẳng định giá trị của đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung. Câu 2: Cảm nhận về tâm trạng của người chinh phụ trong 8 câu thơ: Gà eo óc gáy sương năm trống, Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên. Khắc giờ đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa. Hương gượng đốt, hồn đà mê mải, Gương gượng soi, lệ lại chứa chan. Sắt cầm gượng gảy ngón đàn, Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. (Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, tr 87, Ngữ Văn 10, Tập II, NXBGD năm 2006) Gợi ý 1. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích và vấn đề cần nghị luận (nỗi sầu muộn của người chinh phụ thể hiện trong đoạn thơ cần phân tích). 2. Thân bài a. Giới thiệu: hoàn cảnh sáng tác, nội dung tác phẩm, vị trí trích đoạn, tóm lược nội dung đoạn trước. b. Phân tích: * 4 câu thơ đầu: Cảm nhận về thời gian và nỗi sầu - Nếu như ở đoạn trước tâm trạng của người chinh phụ chủ yếu được đặt trong cảm nhận về không gian thì ở đoạn này tâm trạng của người chinh phụ còn hiện lên qua những cảm nhận về thời gian. Bắt đầu là âm thanh của tiếng gà điểm canh. Gà eo óc gáy sương năm trống Bản thân tiếng gà rất trung hòa về sắc thái nhưng ở đây nó được nghe bởi tâm trạng, nỗi lòng của người đang cô đơn nên thành ra eo óc. Âm thanh nghe đầy nhức nhối bởi lòng người cũng đang nhức nhối trong đêm. Tiếng gà không chỉ diễn tả không gian vắng lặng mà còn diễn tả sự trôi chảy của thời gian chậm chạp. Tiếng gà nghe não nuột, sốt ruột. - Trong đêm thanh vắng chế ngự không gian là những chiếc bóng: bóng người, bóng hòe: Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên Từ láy phất phơ có giá trị miêu tả, gợi liên tưởng đến bóng cây hòe lay động trong đêm, chao qua, liệng lại, chập chờn, tạo nên cảm giác hoang vắng đến ghê sợ. Hình ảnh những chiếc bóng trở đi trở lại nhiều lần phản ánh trạng thái tinh thần của người chinh phụ. Đó là trạng thái sống âm thầm, lặng lẽ, vô hồn, vô cảm như một chiếc bóng mà thôi. Có khác chi là một cái chết khi đang sống. 10
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 - Trong trạng thái như thế, thời gian được cảm nhận: Khắc giờ đằng đẵng như niên Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa So với câu thơ nguyên tác Sầu tự hải, khắc như niên thì hai câu thơ dịch này làm tăng thêm sức nặng của cảm xúc. Từ đằng đẵng không chỉ gợi ra độ dài của thời gian mà còn gợi ra cả sự chờ đợi khắc khoải. Cố nhân có câu: Nhất nhật bất kiến như tam thu hề Nghĩa là một ngày không gặp dài như ba năm. Thời gian chờ đợi càng dài thì mối sầu càng nặng. Mối sầu là thứ vô hình nhưng ở đây đã được cụ thể hữu hình hóa bởi từ láy dằng dặc và hình ảnh so sánh tựa miền biển xa. Mối sầu tựa như những con sóng biển nhấp nhô, xô đẩy nhau giữa biển khơi mịt mù. * 4 câu thơ sau: Những hành động cố gắng vượt thoát khỏi nỗi sầu muộn của người chinh phụ - Hành động thứ nhất: gượng đốt hương, ở đây là đốt những mảnh gỗ thơm, nến thơm, sáp thơm để làm cho căn phòng trở nên thơm tho, ấm cúng, xua đi không khí lạnh lẽo, cô đơn. Nàng đốt hương như muốn tìm lại một chút hương xưa khi hai vợ chồng còn má tựa vai kề. Nhưng kết quả là hồn đà mê mải, nghĩa là người chinh phụ lại còn chìm đắm sâu hơn vào nỗi miên man, trong trạng thái thẫn thờ đến vô cảm, vô thức. - Hành động thứ hai: gượng soi gương. Nàng soi gương như muốn tìm lại bóng hình mình ngày xưa, một thời thanh xuân, tươi trẻ. Nàng ngồi trước gương và phía sau là cái nhìn say mê của người chồng. Nhưng kết quả bây giờ lại là lệ lại châu chan. Nàng khóc vì nhận thấy trong chiếc gương kia chỉ có một mình nàng với nhan sắc tàn phai. Tuổi xuân ngày một trôi đi không trở lại và không biết đến ngày nào người chồng mới trở về. - Hành động thứ ba: gượng gảy đàn. Nàng muốn gảy lại khúc đàn đầm ấm khi vợ chồng còn son trẻ. Nhưng lần này vừa gảy nàng vừa lo âu thấp thỏm với những dự cảm không may: phím loan chùng, dây đàn đứt. → Tóm lại, tất cả những hành động của người chinh phụ chỉ là gượng, gượng mà làm, gượng ép, miễn cưỡng, ép buộc. Từ gượng được lặp lại nhiều lần cho thấy cố gắng thoát khỏi nỗi sầu nhưng càng gắng gượng bao nhiêu thì lại càng đau khổ, bế tắc, tuyệt vọng bấy nhiêu trong tâm trạng của người chinh phụ. c. Đánh giá Bằng những từ láy vừa gợi hình gợi cảm vừa giàu nhạc điệu, kết hợp phép điệp từ, điệp vòng tròn tạo nên nhạc điệu lâm ly, phù hợp để diễn tả nỗi sầu muộn trong hoàn cảnh chờ đợi triền miên của người chinh phụ. Qua đó, có thể nhận thấy thái độ thấu hiểu, đồng cảm, xót thương của tác giả. Và đó cũng là biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học. 3. Kết bài: Khẳng định giá trị của đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung. Câu 3: Cảm nhận về tâm trạng của người chinh phụ trong 8 câu thơ: Lòng này gửi gió đông có tiện? 11
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 Nghìn vàng xin gửi đến non Yên. Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong. Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phùn. (Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, tr 87, Ngữ Văn 10, tập II, NXBGD năm 2006) Gợi ý 1. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích và vấn đề cần nghị luận (nỗi nhớ thương của người chinh phụ được thể hiện trong đoạn thơ cuối). 2. Thân bài a. Giới thiệu: hoàn cảnh sáng tác, nội dung tác phẩm, vị trí trích đoạn, tóm lược nội dung đoạn trước. b. Phân tích: * 4 câu thơ đầu: - Hai câu thơ đầu, người chinh phụ nhờ gió gửi tấm lòng mình đến người chinh phu. Người chinh phụ đã mượn ngọn gió mùa xuân (gió đông) – thứ gió thổi lên màu sự sống. Gió xuân cũng là ngọn gió cả của hạnh phúc. Nó khơi gợi khát vọng hạnh phúc của tuổi trẻ, đánh thức khát vọng lứa đôi thầm kín. Vì vậy mà nỗi niềm thương nhớ trong lòng người chinh phụ càng mãnh liệt hơn. Non Yên vốn là núi Yên Nhiên ở Trung Quốc. Trong câu thơ này, nó chỉ nơi xa xôi mà người chồng đang chinh chiến. Mới đọc qua, thì tưởng đây là ý tưởng đầy chất thơ nhưng đằng sau đó ta nhận ra hiện thực đầy cay đắng. Đó là tình cảnh cách xa biền biệt không tin tức. Nhờ gió đưa tin chỉ là giải pháp tạm thời để giải tỏa tâm lý. Bởi lẽ gió là kẻ đưa tin không đáng tin cậy nhất, hay nói một cách phũ phàng là nghìn vàng sẽ chẳng bao giờ đến được với người chinh phu. Nên gửi vào gió thực chất là gửi cho chính mình, một mình mình biết một mình mình hay. Dù biết vậy nhưng người chinh phụ vẫn không hề nguôi ngoai nỗi nhớ: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời Nỗi nhớ là trạng thái tình cảm vô hình nhưng ở đây đã được hữu hình hóa bằng từ thăm thẳm và hình ảnh so sánh đường lên bằng trời. Nhớ thăm thẳm vừa có độ dài, vừa có độ sâu. Chiều dài của nỗi nhớ ấy được đo bằng đường lên trời. Nhưng làm sao có thể biết được đường lên trời bao xa. Làm sao có thể biết được con đường xa xôi ấy khó khăn chừng nào? Như vậy, nỗi nhớ không có thước đo giới hạn. Nỗi nhớ ấy biểu hiện tình cảm sâu sắc của người chinh phụ đối với chồng. * 4 câu thơ sau: - Nỗi nhớ còn được đẩy lên mức độ cao hơn, sâu sắc hơn; Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu 12
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 Phép điệp đầu cuối “trời Trời” và từ láy thăm thẳm được lặp lại nhấn mạnh tính chất cách trở vời vợi của không gian, tạo nên sự ngăn trở tuyệt đối khôn thấu (không thể thấu hiểu). Đó là trời không thấu hiểu, đời không thấu hiểu hay người không thấu hiểu. Câu thơ ẩn chứa lời oán trách. Đằng sau nỗi oán trách ấy là tiếng thở dài: Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong Ở trên là nhớ thăm thẳm, ở đây là nhớ đau đáu, là nỗi nhớ nhức nhối, xót xa, tê tái. Nỗi nhớ chuyển hóa, nhuốm màu sắc đau thương. Hóa ra đi đến tận cùng nỗi nhớ là nỗi đau. Vì nhớ mà đau, càng nhớ càng đau. - Hai câu thơ cuối: Cảnh buồn người thiết tha lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun Hai câu thơ tả cảnh ngụ tình diễn tả tinh tế mối quan hệ giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh vật thiên nhiên và tâm trạng con người. Từ đó, nhấn mạnh nỗi buồn nhớ khôn nguôi, nỗi nhớ thương da diết tới não lòng của người chinh phụ. c. Đánh giá - Nghệ thuật: cách dùng những từ láy gợi hình gợi cảm, phép điệp, bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. - Nội dung: Thông qua việc diễn tả chân thực nỗi khổ đau của người chinh phụ, tác giả đã thể hiện cái nhìn nhân đạo sâu sắc. Đó là tiếng nói xót thương và oán hận cho những giá trị nhân sinh đã bị cướp đi do chiến tranh phi nghĩa. Đó là tuổi trẻ, là tình yêu, là hạnh phúc lứa đôi – những giá trị nhân văn cao quý. 3. Kết bài: Khẳng định giá trị của đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung. Câu 4: Hãy làm sáng tỏ giá trị nhân đạo trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Gợi ý 1. Gới thiệu vài nét về tác giả, dịch giả, tác phẩm. 2. Giới thiệu ngắn gọn về tinh thần nhân đạo trong văn học: - Nhân đạo là lòng yêu thương giữa con người với con người. - Biểu hiện: + Đồng cảm, xót thương với những nỗi khổ đau của con người. + Tố cáo những thế lực chà đạp lên con người. + Trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp, những khát vọng chân chính của con người. 3. Chứng minh tinh thần nhân đạo trong đoạn trích - Đồng cảm, xót thương với tình cảnh của người chinh phụ: Tác giả bày tỏ sự thấu hiểu với mọi cung bậc tâm trạng từ cô đơn, sầu muộn đến nhớ nhung. - Đồng tình và ngợi ca niềm khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi của con người. - Tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Học sinh phân tích dẫn chứng cụ thể trong đoạn trích để làm sáng tỏ các luận điểm. 4. Đánh giá 13
- Chuyên đề ôn thi môn Ngữ văn 10 2021 - 2022 - Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là một trong những đoạn trích thể hiện rõ nét tinh thần nhân đạo của tác phẩm. - Tinh thần nhân đạo trong tác phẩm Chinh phụ ngâm nói chung và đoạn trích này nói riêng đã tiếp nối vào truyền thống nhân đạo trong văn học. (Mở rộng liên hệ với Độc Tiểu Thanh kí, Truyện Kiều, ) Yên Dũng, ngày 15 tháng 01 năm 2022 Người viết: Trần Thùy Trang 14

