Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn 10
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn 10", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_hoc_ki_i_ngu_van_10.docx
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn 10
- ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 10 HỌC KÌ I I. VĂN BẢN VĂN HỌC 1. Đoạn trích CHIẾN THẮNG MTAO MXÂY (Trích sử thi Đăm Săn) *Tìm hiểu chung - Đăm Săn là thiên sử thi anh hùng tiêu biểu của dân tộc Ê-đê nói riêng và kho tàng sử thi dân gian nước ta nói chung - Đoạn trích nằm ở phần giữa tác phẩm, kể về cuộc giao chiến giữa Đăm Săn và Mtao Mxây. Đăm Săn chiến thắng cứu được vợ và thu phục được dân làng của tù trưởng Mtao M xây a. Nội dung - Cảnh chiến đấu và chiến thắng của Đăn Săn: cuộc chiến của Đăm Săn và Mtao M xây diễn ra trong bốn hiệp. Ở đó, Đăm Săn luôn chủ động, thẳng thắng, dũng cảm và mạnh mẽ, còn Mtao Mxây thì thụ động, hèn nhát, khiếp sợ. Với sự giúp đỡ của thần linh, Đăm Săn đã giết chết kẻ thù. Như vậy trong tưởng tượng của dân gian, Đăm Săn là biểu tượng của chính nghĩa và sức mạnh của cộng đồng, còn Mtao M xây là biểu tượng cho phi nghĩa và cái ác. - Cảnh Đăm Săn thu phục dân làng của Mtao Mxây rồi cùng họ và tôi tớ trở về: Sự hưởng ứng, tự nguyện mang của cải theo Đăm Săn của dân làng và lòng trung thành tuyệt đối với Đăm Săn của tôi tớ thể hiện sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi , khát vọng và sự yêu mến, tuân phục của cá nhân đối với cộng đồng. Đó là sự suy tôn tuyệt đối của cộng đồng với người anh hùng sử thi - Cảnh ăn mừng chiến thắng: con người Ê-đê và thiên nhiên Tây Nguyên đều tưng bừng trong men say chiến thắng. Ở đây nhân vật sử thi Đăm Săn thực sự có tầm vóc lịch sử khi được đặt giữa một bối cảnh rộng lớn của thiên nhiên, xã hội và con người Tây Nguyên. b. Nghệ thuật - Tổ chức ngôn ngữ phù hợp với thể loại sử thi: ngôn ngữ của người kể biến hóa linh hoạt, hướng tới nhiều đối tượng; ngôn ngữ đối thoại được khai thác dưới nhiều góc độ Sử dụng có hiệu quả lối miêu tả song hành, đòn bẩy, thủ pháp so sánh, phóng đại, đối lập, tăng tiến c. Ý nghĩa văn bản - Đoạn trích khẳng định sức mạnh và ngợi ca vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn- một người trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc, xứng đáng là người anh hùng mang tầm vóc sử thi của dân tộc Ê-đê thời cổ đại. 2. Truyền thuyết: TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU- TRỌNG THỦY * Tìm hiểu truyện - Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy được trích từ truyện “Rùa Vàng” trong Lĩnh Nam chích quái- tập truyện dân gian được sưu tập vào cuối thế kỉ XV. a. Nội dung - An Dương Vương xây thành, chế nỏ giữ nước: thành xây ở đất Việt Thường nhưng “hễ đắp tới đâu lại lỡ tới đấy”. Nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng, An Dương Vương xây được thành, chế nỏ thần, chiến thắng Triệu Đà, buộc hắn phải cầu hòa. Thông qua những chi tiếc kì ảo trong truyền thuyết (có sự giúp đỡ của thần linh), dân gian đã ngợi ca nhà vua, tụ hào về chiến công xây thành, chế nỏ, chiến thắng ngoại xâm của dân tộc - Bi kịch nước mất nhà tan và bi kịch tình yêu tan vỡ + Vì chủ quan, mất cảnh giác, hai cha con An Dương Vương đã mắc mưu Triệu Đà dẫn đến việc nước Âu Lạc thất bại. Cùng với nước mất là nhà tan. Trước lời kết tội của Rùa Vàng, An Dương Vương đã “rút gươm chém Mị Châu”. Câu nói của Rùa Vàng làm An Dương Vương tỉnh ngộ, nhận ra bi kịch. Hành động “rút gươm chém Mị Châu” thể hiện sự dứt khoát, quyết liệt và sự
- tỉnh ngội muộn màng của nhà vua + Mối tình Mị Châu- Trọng Thủy tan vỡ bởi âm mưu xâm lược của Triệu Đà. Cái chết của Mị Châu, Trọng Thủy là kết cục bi thảm của một mối tình éo le luôn bị tác động, chi phối bởi chiến tranh + Nhân dân không dồng tình với sự chủ quan, mất cảnh giác của An Dương Vương và nêu bài học lịch sử về thái độ cảnh giác với kẻ thù; vừa phê phán hành động vô tình phản quốc, vừa rất độ lượng với Mị Châu, hiểu nàng là người cả tin, ngây thơ bị lợi dụng. Hình ảnh “ngọc trai- nước giếng” thể hiện thái độ vừa nghiêm khắc, vừa nhân ái của nhân dân ta với các nhân vật trong truyện. b. Nghệ thuật - Kết hợp nhuần nhuyễn giữa “cốt lõi lịch sử” và hư cấu nghệ thuật - Kết cấu chặt chẽ, xây dựng những chi tiếc kì ảo có giá trị nghệ thuật cao (ngọc trai- giếng nước) - Xây dựng được những nhân vật truyền thuyết tiêu biểu c. Ý nghĩa văn bản - Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy giải thích nguyên nhân việc mất nước Âu Lạc và nêu bài học lịch sử về việc giữ nước, tinh thần cảnh giác với kẻ thù, cùng cách xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa riêng với chung, nhà với nước, cá nhân với cộng đồng. 3. Truyện cổ tích: TẤM CÁM * Tìm hiểu chung - Truyện cổ tích có ba loại: cổ tích về loài vật, cổ tích thần kì, cổ tích sinh hoạt. - Tấm Cám thuộc loại cổ tích thần kì. Đắc trưng quan trọng của cổ tích thần kì là sự tham gia của các yếu tố thần kì vào sự phát triển của câu chuyện. Ước mơ cháy bỏng về hạnh phúc, lẽ công bằng, phẩm chất và năng lực tuyệt vời của con người là nội dung chủ yếu của truyện cổ tích thần kì. a. Nội dung - Mâu thuẫn chủ yếu trong tác phẩm là mâu thuẫn gữa cô Tấm mồ côi, xinh đẹp, hiền lành với dì ghẻ và Cám ác độc, tàn nhẫn. Mâu thuẫn này phát triển từ thấp đến cao: ban đầu chỉ là những hơn thua về vật chất, tinh thần, sự ganh ghét mẹ ghẻ con chồng, Khi đó, Tấm luôn là người nhường nhịn, chịu thua thiệt. Càng về sau mâu thuẫn chuyển thành sự đố kị, một mất một còn, tiêu diệt lẫn nhau. Đây là những mâu thuẫn trong gia đình phụ quyền thời cổ nhưng trên hết là mâu thuẫn giữa thiện và ác trong xã hội. Mâu thuẫn này được tác giả dân gian giai quyết theo hướng thiện ác. - Ý nghĩa những lần biến hóa của Tấm: dù bị mẹ con Cám tìm mọi cách tận diệt, Tấm vẫn tái sinh dưới các dạng thức khác nhau (chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị). Càng về sau, Tấm càng đấu tranh quyết liệt để giành lại sự sống. Qua những lần biến hóa, dân gian muốn khẳng định: cái thiện không bao giờ chịu khuất phục, chính nghĩa khong bao giờ đầu hàng, cái thiện sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ lẽ phải và công lí. Đó là nguyên nhân quan trọng nhất làm nên chiến thắng. - Ý nghĩa việc trả thù của Tấm: hành động trả thù của Tấm là hành động của cái thiện trừng trị cái ác. Nó phù hợp với quan niệm “Ở hiền gặp lành”, “Ác giả, ác báo”. b. Nghệ thuật - Xây dựng những mâu thuẫn, xung đột ngày càng tăng tiến. - Xây dựng nhân vật theo hai tuyến đối lập cùng tồn tại và song song phát triển. Ở đó, bản chất của từng tuyến nhân vật được nhấn mạnh.
- - Có nhiều yếu tố thần kì song vai trò của yếu tố thần kì cũng khác nhau trong từng giai đoạn. - Kết cấu quen thuộc của truyện cổ tích: người ngèo khổ, bất hạnh trải qua nhiều hoạn nạn cuối cùng được hưởng hạnh phúc. c. Ý nghĩa văn bản - Truyện Tấm Cám ngợi ca sức sống bất diệt, sự trỗi dậy mạnh mẽ của con người và cái thiện trước sự vùi dập của kẻ xấu, cái ác, đồng thời thể hiện niềm tin của nhân dân vào công lí và chính nghĩa. 4. Ca dao: ca dao than thân yêu thương tình nghĩa * Tìm hiểu chung - Về nội dung: Diễn tả đời sống nội tâm của con người, đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân. - Về nghệ thuật: thể thơ lục bát; ngôn ngữ giàu hình ảnh, gần gũi với lời nói hằng ngày; sử dụng nhiều so sánh, ẩn dụ, a. Nội dung Bài 1: Ca dao than thân: + Thân em so sánh -> tấm lụa đào:Đẹp, quý giá >< nhưng lại là 1 món hàng. Người phụ nữ ý thức được sắc đẹp, tuổi xuân của mình: "Như tấm lụa đào" => người thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp phơi phới xuân sắc, xuân thì. Nhưng số phận của họ thật chông chênh cay đắng giống như 1 món hàng để bán, mua. Cụm từ "biết vào tay ai" cho thấy cô gái không sợ ế, không sợ rẻ mà chỉ băn khoăn về người chồng tương lai của đời mình mà mình không có quyền lựa chọn. Tình cảm chỉ trông chờ vào sự may rủi của duyện kiếp. => Bài ca dao là tiếng nói tố cáo XHPK bất công, không trân trọng người phụ nữ khiến họ phải sống phụ thuộc, bị coi rẻ, coi khinh. Đây còn là tiếng nói đồng cảm cảm thông với những bất hạnh của người phụ nữ đồng thời đề cao ca ngợi vẻ đẹp của họ. Bài 4: ca dao yêu thương - Chủ đề nỗi nhớ trong tình yêu. Bài ca dao nói về nỗi nhớ thương người yêu của người con gái (tương tư). - Tâm trạng của nhân vật trữ tình: + NT nhân hoá: Khăn, đèn biết thương, biết nhớ. . Khăn rơi, đèn sáng: Cô gái buồn, thương nhớ. . NT hoán dụ: Mất ngủ không yên: Lo lắng bồn chồn chờ đợi + Cô gái: Hỏi đèn hỏi mắt -> hỏi chính mình -> Bộc lộ nỗi nhớ thương. + H/ả ngọn đèn -> nỗi nhớ trải theo thời gian nỗi nhớ trả dài từ ngày sang đêm. + H/ả cuối cùng "đôi mắt" NT nhân hoá: Cô gái như không kìm lòng được nữa, hỏi trực tiếp chính mình. "Mắt thương nhớ ai mắt ngủ không yên". -> Hình tưởng hợp lý nhất quán và tự nhiên như c/s' con người, như niềm thương nỗi nhớ của cô gái. - 2 câu cuối: Nhớ + lo -> nỗi lòng thêm đau đớn vì lo cho hạnh phúc lứa đôi, sợ tình yêu không thành. => Bài ca dao là tấm lòng đòi hỏi 1 tình yêu tự do hạnh phúc. Bài 6: Ca dao tình nghĩa vợ chồng thủy chung, gắn bó. - Hình ảnh biểu tượng: Muối, gừng: Cuộc sống thiếu thốn nhưng tình nghĩa thuỷ chung. b. Ca dao hài hước * Bài 1: Ca dao hài hước - tự trào. - Cười về cuộc sống nghèo khổ của bản thân. Nó được thể hiện rõ nhất trong cảnh thách cưới và dẫn cưới.
- - Lời dẫn cưới của chàng trai: Chàng nông dân nghèo không gì để làm lễ vật cưới hỏi nhưng với lời nói khoa trương phóng đại, lập luận, lý lẽ mang tính giả tưởng, suy diễn hài hước anh lại nói như mình có đủ chỉ vì này nọ mà không dẫn thôi. Nói là dẫn chuột béo nhưng thực ra cũng là cách nói hài hước chứ xưa nay ai dẫn chuột bao giờ (chỉ là hài hước, khoa trương). Nhưng tình cảm của chàng trai, cuộc sống nghèo khổ, tâm hồn vui vẻ, phóng khoáng, lạc quan của anh là có thật. - Lời thách cưới của cô gái: Cô gái không ngạc nhiên trước lễ vật dẫn cưới đặc biệt của chàng trai, ngược lại cô khen là sang và không phá ngang -> thông cảm, chấp nhận. +"thách cưới 1 nhà khoai lang"=> Cô gái biết rõ chàng trai nghèo không lo nổi lợn, gà để dẫn cưới nên cô thách lễ vật là khoai lang, không phải là một vài củ vài gánh mà là 1 nhà (mong ước mùa màng bội thu. + Cô đưa ra ý định sử dụng: Theo trật tự giảm dần mà lại hợp lý-> Cô gái tỏ ra sẽ là 1 người phụ nữ tháo vát, dảm đang, hào phóng với họ hàng xóm làng, biết tổ chức cuộc sống êm đềm thuận hoà trong nhà, ngoài xóm. => Bài ca dao cho thấy 1 phương diện tâm hồn của người bình dân: Hồn nhiên, lạc quan, yêu đời, biết cảm thông và chia sẽ với cuộc sống khốn khổ của người bình dân -> thể hiện bản lĩnh và quan niệm sống của họ đặt tình nghĩa cao hơn của cải. Bài tập: Làm rõ vẻ đẹp của bài ca dao số 4: - Vẻ đẹp nội dung: nỗi nhớ thương, một trong những cung bậc cảm xúc của tình yêu mà ca dao đã thể hiện rất thành công (liên hệ với một số bài ca dao khác cùng chủ đề) - Chủ yếu là vẻ đẹp trong cách nói: + Lối nói bằng biểu tượng: khăn, đèn, mắt (phân tích) ++ “khăn” là khách thể trữ tình, là đối tượng để cô gái đa tình, si tình cùng tâm sự, cùng giãi bày, cùng thổ lộ, để san sẻ nỗi thương nhớ đầy vơi trong lòng. “Khăn” đồng thời là ẩn dụ; lòng em như khăn đó. Nghệ thuật sử dụng điệp cú liên hoàn (3 lần) “khăn thương nhớ ai” và nhân hoá: “khăn rơi xuống đất”, “khăn vắt lên vai”, “khăn chùi nước mắt” đã cực tả bao nỗi thương nhớ day dứt, triền miên, bồi hồi dâng lên trong lòng em. ++ Hình ảnh cây đèn gợi nỗi nhớ được trải dài theo thời gian. Đèn không tắt chính là hình ảnh ngọn lửa thương nhớ luôn đang cháy rực trong tim. Người con gái đang trằn trọc trong đêm nhớ thương đằng đẳng. ++ Hỏi mắt, dường như không kìm lòng được nữa, cô gái đã hỏi trực tiếp chính mình: Mắt thương nhớ ai, mắt ngủ không yên. Nỗi nhớ thương nặng trĩu tâm can khiến cô nhắm mắt là mường tượng ra hình ảnh người ấy, ngủ làm sao yên cho được! + Phép điệp cấu trúc kết hợp với thanh điệu tạo âm hưởng cho lời thơ (phân tích chỉ ra hiệu quả) ++ Sáu câu thơ đầu được cấu trúc theo lối vắt dòng, láy lại 6 lần từ “khăn” ở vị trí đầu các câu thơ và láy lại 3 lần câu “khăn thương nhớ ai” như một điệp khúc bất tận, thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết. Dường như mỗi lần hỏi là nỗi nhớ lại trào dâng thêm. ++ Mười câu thơ là 5 câu hỏi không có lời đáp. Điệp khúc “thương nhớ ai” trở đi trở lại như xoáy vào một nỗi niềm khắc khoải, da diết. ++ Năm lần từ “thương nhớ” và năm lần từ “ai” xuất hiện. Bản thân từ “ai” xuât hiện. Bản thán từ “ai” mang ý phiếm chỉ, gợi lên một nỗi nhớ thương sâu thẳm mênh mông, không giới hạn. ++ Từ “ai” là phiếm chỉ, không xác định cá thể đối tượng, nhưng người nghe hoàn toàn hiểu được “ai” ấy là ai. Hỏi không có trả lời, nhưng thực ra cầu trả lời đã nằm trong giọng điệu khắc khoải, da diết kia. Không cần nói rõ, nhưng nỗi nhớ người yêu đã được bộc lộ một cách kín đáo mà gợi cảm, sâu sắc, mãnh liệt. ++ Cách gieo vần: Vần chân và vần lưng xen kẽ nhau, vần bằng và vần trắc luân phiên nhau, tất cả tạo nên một âm điệu luyến láy liên hoàn khiến cho nỗi nhớ thương của cô gái vừa như nén lại, vừa như kéo dài ra đến mênh mông vô tận theo cả không gian và thời gian. Tưởng chừng nỗi nhớ ấy sẽ không có kết thúc.
- + Cách phối hợp thể thơ (thể thơ bốn chữ và lục bát) ++ Từ nhịp thơ 4 chữ dồn dập, liên tiếp, lời ca chuyển sang nhịp thơ lục bát, nhẹ nhàng hơn nhưng cũng xao xuyến hơn, giãi bày niềm lo âu của cô gái trước hạnh phúc lứa đôi. Không phải ngẫu nhiên mà chữ “lo” được nhắc đến hai lần. Nhớ thương người yêu và lo lắng cho duyên phận của mình “không yên một bề”, tâm trạng của cô gái mang ý nghĩa phổ biến cho người phụ nữ trong cuộc đời xưa: yêu tha thiết nhưug luôn lo sợ cho hạnh phúc bấp bênh. * Đánh giá kết luận: Bài ca khá tiêu biểu cho nghệ thuật ca dao với sự lặp lại trong cách diễn tả tâm trạng, cách dùng những hình ảnh biểu tượng, lối nhân hóa để tăng thêm sức sống cho hình ảnh, cách gieo vần linh hoạt, cách cấu tạo truyền thống kết hợp những câu thơ bốn chữ với hai câu lục bát cuối cùng... Qua nỗi thương nhớ và niềm lo âu được diễn tả trong bài ca, ta nhận ra tiếng hát yêu thương và khao khát yêu thương của người bình dân xưa. b. Nghệ thuật - Mô típ quen thuộc mở đầu bài ca dao: có một hệ thống những bài ca dao mở đầu bằng cụm từ “Thân em ”. - Hình ảnh biểu tượng "Thân em" chỉ người con gái trong xã hội ngày xưa, như một tiếng than thân trách phận. - Cách so sánh, ẩn dụ, thể thơ lục bát, song thất lục bát. c. Ý nghĩa văn bản - Ngợi ca và khẳng định vẻ đẹp đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của người bình dân Việt Nam xưa trong ca dao - dân ca. 5. Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão) * Tìm hiểu chung a.Tác giả: - Phạm Ngũ Lão ( 1255 - 1320) là anh hùng dân tộc, có công lớn trong công cuộc chống xâm lược Mông - Nguyên để bảo vệ đất nước. b. Tác phẩm * Nội dung - Hình tượng tráng sĩ thời Trần (hùng dũng, hiên ngang...) + Hình ảnh tráng sĩ: hiện lên qua tư thế “ cầm ngang ngọn giáo” (hoành sóc) giữ non sông. Đó là tư thế hiên ngang với vẻ đẹp kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ. + Hình ảnh “ba quân” hiện lên với sức mạnh của đội quân đang sôi sục khí thế quyết chiến thắng. + Hình ảnh tráng sĩ lồng trong hình ảnh “ba quân” mang ý nghĩa khái quát, gợi ra hào khí dân tộc thời Trần - “hào khí Đông A” - Khát vọng lập công danh : Khát vọng lập công danh để thoả “ chí nam nhi”, cũng là khát vọng được đem tài trí “ tận trung báo quốc” - thể hiện lẽ sống lớn của con người với “Hào khí Đông A”. * Nghệ thuật: - Hình ảnh thơ hoành tráng, thích hợp với việc tái hiện khí thế hào hùng của thời đại và tầm vóc, chí hướng của người anh hùng. - Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về cảm xúc c. Ý nghĩa văn bản - Thể hiện lí tưởng cao cả của vị danh tướng Phạm Ngũ Lão, khắc ghi dấu ấn đáng tự hào về một thời kì oanh liệt, hào hùng của lịch sử dân tộc d. Đề bài luyện tập Phân tích bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão
- * Mở bài - Khái quát nội dung ý nghĩa bài thơ Tỏ lòng và những nét chính về tác giả Phạm Ngũ Lão và thời đại của đất nước “Hào khí Đông A” (Hào khí thời Trần) *Gợi ý: Trong lịch sử văn học Việt Nam, Phạm Ngũ Lão chỉ để lại 2 bài thơ nhưng tên tuổi của ông vẫn luôn tỏa sáng trong nền văn học thời nhà Trần cũng như dòng văn học yêu nước của dân tộc. Bài thơ Tỏ lòng là một minh chứng tiêu biểu cho quy luật tồn tại của văn chương nghệ thuật “quý hồ tinh bất quý hồ đa” (quý tinh túy chứ không cốt nhiều). Bài thơ thể hiện sâu sắc vẻ đẹp con người thời Trần mang sức mạnh của thời đại. Con người với sức mạnh lí tưởng cao cả và cái tâm sang ngời nhân cách. Nhà thơ đã làm sống dậy khí thế đấu tranh mạnh mẽ, lừng lẫy của “Hào khí Đông A” một thời oanh liệt. *Thân bài - Tỏ lòng là tác phẩm tiêu biểu thể hiện vẻ đẹp khí phách của con người thời Trần với khí thế đấu tranh hào hùng của dân tộc trong công cuộc chống giặc Nguyên- Mông xâm lược (1226- 1400). - Hai câu đầu bài thơ thể hiện sâu sắc vẻ đẹp con người thời Trần với tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao, kì vĩ : Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu (Múa giáo non sông trải mấy thu Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu) Hai từ “Hoành sóc” là tư thế của con người cầm ngang ngọn giáo để gìn giữ non sông đất nước. Con người xuất hiện với tư thế hiên ngang mang tầm vóc vũ trụ. Con người kì vĩ ấy như át cả không gian bao la của vũ trụ. Tư thế cầm ngang ngọn giáo của binh sĩ nhà Trần khiến ta liên tưởng tới hình ảnh của người chinh phu trong “Chinh phụ ngâm” với tư thế “Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo” Hình ảnh “ba quân” là hình ảnh nói về quân đội nhà Trần nhưng đồng thời cũng tượng trưng cho sức mạnh của dân tộc. Sức mạnh của quân đội nhà Trần được tác giả so sánh và cường điệu “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” tác giả vừa cụ thể hóa được sức mạnh vật chất của ba quân vừa khái quát hóa sức mạnh tinh thần của quân đội nói chung mang “Hào khí Đông A” một thời lừng lẫy. Hình ảnh người tráng sĩ nhà Trần với hành động hùng dũng phi thường giữa chốn trời đất bao la rộng lớn “khí mạnh nuốt trôi trâu” trong cuộc đấu tranh kiên trì không mệt mỏi “trải mấy thu” để bảo vệ đất nước khiến tầm vóc của con người ngày càng thêm lớn lao kì vĩ trước vũ trụ. - Hai câu sau: Nhà thơ tập trung thể hiện nỗi lòng của người tráng sĩ. Nỗi lòng đó là cái chí, cái tâm của người anh hùng mang hơi thở Hào khí Đông A của thời đại . Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gan thuyết Vũ hầu (Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu) - Chí” ở đây là chí làm trai, chí nam nhi trong xã hội mang tinh thần, tư tưởng tiến bộ của Nho giáo: lập công (sự nghiệp) và lập danh (để lại tiếng thơm) cho đời. Quan niệm lập công danh đã trở thành quan niệm lí tưởng của các bậc nam nhi trong xã hội ngày xưa. Sau này, nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã khẳng định” Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông
- Công danh được coi là món nợ đời mà người quân tử trong xã hội phải trả. Kẻ làm trai mà trả xong nợ công danh cũng có nghĩa là đã hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nước. Chí làm trai ở thời bấy giờ có tác động nhằm cổ vũ tinh thần tinh thần con người từ bỏ lối sống tầm thường ích kỉ để sẵn sang chiến đấu, hi sinh cho sự nghiệp cứu nước lớn lao của dân tộc. Sự nghiệp của người anh hùng “muôn đời bất hủ” rạng rỡ với non sông đất nước. - Bên cạnh cái Chí còn là cái tâm trong sáng của người anh hùng. Cái tâm ấy chính là nỗi “thẹn” sáng ngời nhân cách. Phạm Ngũ Lão “thẹn” trước một con người tài trí như Gia Cát Lượng, nhà thơ thẹn thùng vì chưa có tài mưu lược lớn để trừ giặc cứu dân cứu nước. Nỗi thẹn ấy khiến ta liên tưởng tới Nguyễn Khuyến đã từng thẹn thùng khi nghĩ tới Đào Tiềm- Đào Uyên Minh, một danh sĩ cao khiết đời Tấn “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”. Đó chính là nỗi thẹn thể hiện nhân cách lớn lao cao cả của nhà thơ. * Kết bài - Bài thơ Đường luật ngắn gọn nhưng đã đạt tới độ súc tích cao bởi bút pháp nghệ thuật đặc sắc với những hình tượng lớn lao, kì vĩ nhằm tô đậm vẻ đẹp và sức mạnh của con người thời Trần với “Hào khí Đông A” của thời đại. Khí thế mạnh mẽ ấy được bắt ngồn từ lòng yêu nước, tinh thần quyết chiến, quyết thắng với kẻ thù xâm lược để bảo vệ đất nước. 6. NHÀN (Nguyễn Bỉnh Khiêm) a.Tìm hiểu chung - Tác giả: Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) là người thông minh, uyên bác, chính trực, coi thường danh lợi, “ chí để ở nhàn dật”. - Tác phẩm: Nhan đề do người đời sau đặt nhưng cũng là một sự tri âm với tác giả. Chữ nhàn trong bài nhằm chỉ một quan niệm, một cách xử thế b. Đọc - hiểu văn bản *. Nội dung - Nhàn thể hiện sự ung dung trong phong thái, thảnh thơi, vô sự trong lòng, vui với thú điền viên. - Nhàn là nhận dại về mình, nhường khôn cho người, xa lánh chốn danh lợi bon chen, tìm về “ nơi vắng vẻ”, sống hoà nhập với thiên nhiên để “ di dưỡng tinh thần”. - Nhàn là sống thuận theo lẽ tự nhiên, hưởng những thức có sẵn theo mùa ở nơi thôn dã mà không phải mưu cầu, tranh đoạt. - Nhàn có cơ sở từ quan niệm nhìn cuộc đời là giấc mộng, phú quý tự chiêm bao. Từ đó, cảm nhận được trí tuệ uyên thâm, tâm hồn thanh cao của nhà thơ thể hiện qua lối sống đạm bạc, nhàn tản, vui với thú điền viên thôn dã *. Nghệ thuật - Sử dụng phép đối, điển cố. - Ngôn từ mộc mạc, tự nhiên mà ý vị, giàu chất triết lí *. Ý nghĩa văn bản - Vẻ đẹp nhân cách của tác giả: thái độ coi thường danh lợi, luôn giữ cốt cách thanh cao trong mọi cảnh ngộ đời sống c. Đề bài luyện tập - Phân tích bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm * Mở bài: - Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trí thức nho sĩ, luôn khao khát đem tài năng phục vụ cho đất nước. Nhưng ông sinh vào thời buổi loạn lạc, nên chỉ làm quan có tám năm rồi ông lui về ở ẩn.
- Bài thơ số bài thơ số 73 hay còn được người biên soạn đặt là Nhàn, nằm trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi tập là một trong những tác phẩm nổi bật của ông. Tác phẩm thể hiện triết lí, quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. *Thân bài: - Nhàn là một thái độ sống, cách thể hiện quan niệm đạo đức của các nhà nho ẩn dật. Đồng thời đây cũng là một chủ đề phổ biến trong văn học Trung đại. Nhàn là lối sống hòa hợp với tự nhiên, thuận theo tự nhiên. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, sống trong bối cảnh xã hội khủng khoảng, nhà thơ không có điều kiện để thực hiện lí tưởng, tài năng của mình (tám năm làm quan, mười tám lần dâng sớ chém đầu lộng thần nhưng không được chấp thuận) thì việc cáo quan về ở ẩn, sống “nhàn” để giữ vững phẩm chất đạo đức là một lựa chọn tích cực. - Lối sống nhàn của ông trước hết thể hiện ở cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên: "Một mai, một cuốc, một cần câu/ Thơ thẩn dầu ai vui thú nào". Câu thơ sử dụng biện pháp liệt kê, với nhịp thơ 2/2/3 cho thấy nhịp sinh hoạt đều đặn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cuộc sống hàng ngày của ông đơn giản chỉ gồm: mai – đào đất, cuốc – xới đất và cần câu – câu cá. Đây là cuộc sống của những người lao động bình dân nơi thôn quê. Cùng với đó ông kết hợp biện pháp điệp ngữ cùng số từ “một” – số ít, cho thấy cuộc sống giản đơn, không tư lợi, bon chen, chỉ cần những dụng cụ tối thiểu, đơn giản nhất để phục vụ nhu cầu của mình. Đồng thời cách ngắt nhịp 2/2/3 còn cho thấy lối sống của ông hết sức thong thả, ông luôn giữ tâm thế ung dung, tự tại, khoan thai. - Trong câu thơ thứ hai, ông trực tiếp bộc lộ quan điểm sống cũng như tâm trạng của mình. Quan niệm sống được phát biểu rõ ràng, dù ai có lựa chọn những thú vui khác (cuộc sống đủ đầy, tiện nghi, vinh hoa phú quý) thì tác giả vẫn kiên định với lựa chọn của mình. Tâm trạng “thơ thẩn” diễn tả trực tiếp tất cả trạng thái, tâm thế của tác giả. “Thơ thẩn” là thanh thản, thảnh thơi, hoàn toàn mãn nguyện. Đây là lối sống ông chọn và ông hoàn toàn mãn nguyện, bằng lòng với cuộc sống lão nông tri điền như thế. - Lối sống nhàn của ông còn được thể hiện qua cuộc sống đạm bạc mà thanh cao. Bữa cơm, sinh hoạt đời thường hết sức giản dị, thuận theo tự nhiên: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Chỉ với hai câu thơ, nhưng tác giả đã gợi nên những đặc trưng tiêu biểu nhất của từng mùa. Đồng thời bức tranh ấy cũng cho thấy nhịp sống tuần hoàn, đều đặn của Trạng Trình. Ông hoàn toàn chủ động, ung dung khi hòa nhịp sống của bản thân với nhịp sống của thiên nhiên vạn vật. Sự hòa nhịp ấy trong cả nếp ăn và nếp tắm. Từ “ăn” và “tắm” được lặp lại hai lần cho thấy những nhu cầu sống tối thiểu của con người đều được đáp ứng đủ đầy, mùa nào thức ấy được thiên nhiên hào phóng ban tặng. Cuộc sống đạm bạc nhưng không hề khắc khổ mà thanh cao, giải phóng cho con người, mang đến sự tự do trong cuộc sống. - Không dừng lại ở đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm ta còn thấy vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi tầm thường: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao”. Ở đây Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sử dụng thành công nghệ thuật đối giữa hai không gian sống và hai cách ứng xử. Nơi vắng vẻ là nơi ít người lại qua, không phải cầu cạnh, cũng chẳng phải đua chen, tranh giành với nhau. Thiên nhiên tĩnh lặng và trong sạch, con người được nghỉ ngơi và có cuộc sống thanh nhàn. Ông tự nhận dại tìm đến nơi vắng vẻ để sống, ông chọn khác với đám đông, khác với thói thường... “Chốn lao xao” là nơi đô thị sầm uất, nhộn nhịp, con người phải đua chen, giành giật, phải luồn cúi cầu cạnh. Người khôn cứ tiếp tục sống cuộc sống đua chen, tranh giành sẽ đánh mất nhân phẩm. Khôn mà hóa dại. Trong nhiều bài thơ khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nói về cái lẽ dại – khôn ấy: Khôn mà hiểm độc là khôn dại/ Dại mà hiền lành ấy dại khôn.
- - Đặc biệt quan niệm sống của ông còn được thể hiện rõ qua hai câu kết: “Rượu đến cội cây, ta sẽ uống/ Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Mượn điển tích Thuần Vu Phần nằm mộng dưới gốc cây hòe, mơ thấy mình ở nước Hòe An có công danh phú quý nhưng tỉnh dậy thấy bên cạnh chỉ là một tổ kiến. Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm đến rượu để say, nhưng say mà để tỉnh, rồi nhận ra chân lí của cuộc sống, quy luật trong cuộc đời: công danh, phú quý chỉ là giấc mộng thoảng qua. Công danh phú quý không phải là tất cả. Ông đã khẳng định phú quý kia chỉ là giấc chiêm bao, quan điểm đó đã cho thấy sự thông tuệ của bản thân của Nguyễn Bỉnh Khiêm: hiểu được quy luật tuần hoàn của vũ trụ, nhìn mọi sự biến thiên bằng con mắt bình thản. * Kết bài: - Bài thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố đường luật và yếu tố Việt hóa: yếu tố đường luật thể hiện ở lớp ngôn từ với nhiều dùng điển tích; hình ảnh ước lệ với bốn mùa xuân – hạ - thu – đông. Bài thơ tuân thủ chặt chẽ niêm luật thơ Đường. Nhưng yếu tố Nôm cũng được kết hợp hết sức hài hòa: sử dụng chữ Nôm, hình ảnh thơ dân giã, quen thuộc, hết sức giản dị. Qua bài thơ Nhàn cho ta thấy một lối sống, quan niệm sống hết sức đẹp đẽ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tác phẩm là lời khẳng định sâu sắc về lối sống nhàn, hòa hợp với tự nhiên, ông giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên phường danh lợi tầm thường. 7.CẢNH NGÀY HÈ (Nguyễn Trãi) a. Tìm hiểu chung - Xuất xứ: là bài số 43 thuộc chùm thơ Bảo kính cảnh giới trong Quốc âm thi tập. - Chủ đề: bộc lộ nỗi lòng, chí hướng tác giả b. Đọc - hiểu văn bản *. Nội dung - Vẻ đẹp rực rỡ của bức tranh thiên nhiên + Mọi hình ảnh đều sống động: hoè lục đùn đùn, rợp mát như giương ô che rợp; thạch lựu phun trào sắc đỏ, sen hồng đang độ nức ngát mùi hương. + Mọi màu sắc đều đậm đà: hoè lục, lựu đỏ, sen hồng - Vẻ đẹp thanh bình của bức tranh đời sống con người: nơi chợ cá dân dã thì “ lao xao”, tấp nập; chốn lầu gác thì “ dắng dỏi” tiếng ve như một bản đàn. Cả thiên nhiên và cuộc sống con người đều tràn đầy sức sống. điều đó cho thấy một tâm hồn khát sống, yêu đời mãnh liệt và tinh tế, giàu chất nghệ sĩ của tác giả. - Niềm khát khao cao đẹp + Đắm mình trong cảnh ngày hè, nhà thơ ước có cây đàn của vua Thuấn, gảy khúc Nam Phong cầu mưa thuận gió hoà để “ Dân giàu đủ khắp đòi phương”. + Lấy Nghiêu, Thuấn làm “ gương báu răn mình”, Nguyễn Trãi đã bộc lộ chí hướng cao cả: luôn khao khát đem tài trí để thực hành tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân. *. Nghệ thuật - Hệ thống ngôn từ giản dị, tinh tế xen lẫn từ Hán và điển tích. - Sử dụng từ láy độc đáo: đùn đùn, lao xao, dắng dỏi,... *. Ý nghĩa văn bản - Tư tưởng lớn xuyên suốt sự nghiệp trước của Nguyễn Trãi - tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân - được thể hiện qua những rung động trữ tình dạt dào trước cảnh thiên nhiên ngày hè. c. Đề luyện tập - Phân tích bài thơ "Cảnh ngày hè" của Nguyễn Trãi *Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- + Tác giả Nguyễn Trãi là một nhà thơ, nhà văn tài năng kiệt xuất của dân tộc, ông đã có nhiều đóng góp lớn cho nền văn học nước nhà. + Bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi là bài số 43 trong trùm thơ Bảo kính cảnh giới của Quốc âm thi tập, là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp và tấm lòng yêu nước thương dân của tác giả. >>> Đọc thêm: Hướng dẫn soạn bài Cảnh ngày hè ngắn gọn nhất * Thân bài - Hoàn cảnh sống của Nguyễn Trãi trong những ngày về ở ẩn: + “Rồi”: Là một từ cổ có nghĩa là rảnh rỗi, nhàn hạ + “Ngày trường”: Ngày dài, chỉ khoảnh thời gian rảnh rỗi. + Hóng mát: Hoạt động an nhàn, tĩnh tại, thư thái -> Tâm thế an nhàn, thảnh thơi của tác giả. Nguyễn Trãi một đời bận rộn, tận tâm vì đất nước, đây là những giây phút hiếm hoi của cuộc đời. - Bức tranh cảnh ngày hè nổi lên với bức tranh thiên nhiên ngày hè rực rỡ: + Cây hòe có sức sống mãnh liệt giờ tán là xanh che phủ cả khoảng không gian + Sắc đỏ của cây thạch lựu tô đậm thêm cho khung cảnh ngày hè + Hương hoa sen tỏa ngát bay theo làn gió -> Cảnh vật ngày hè tươi tắn, tràn đầy sức sống, tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên của của Nguyễn Trãi - Vẻ đẹp bức tranh cuộc sống con người: + Nguyễn Trãi dùng nhiều từ Hán Việt như ngư phủ, cầm ve, tịch dương kết hợp nhuần nhuyễn với những từ thuần Việt tạo nên vẻ đẹp vừa mộc mạc, bình dị, vừa trang trọng tao nhã. + Cuộc sống được cảm nhận bằng âm thanh: Âm thanh từ làng chợ cá, của tiếng ve râm ran mỗi độ hè về + Từ láy: đùn đùn, lao xao, dắng dỏi -> Cảnh ngày hè xôn xao, náo nức, không khí rất nhộn nhịp + Động từ: rợp, đùn, tiễn đưa khiến cho người đọc thấy được cảm giác sức sống trỗi dậy của cảnh vật mùa hè + Nhà thơ sử dụng hai từ láy tượng thanh “lao xao” – âm thanh của những phiên chợ cá, “dắng dỏi” – diễn tả âm thanh của tiếng ve, kết hợp với nghệ thuật đảo cấu trúc câu nhằm nhấn mạnh những âm thanh bao trùm làng quê. → Cuộc sống sôi động, ồn ão, tràn đầy sức sống và âm thanh. ⇒ Cả thiên nhiên và con người đều hiện lên tràn đầy sức sống, tâm hồn lạc quan, yêu đời, tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên, tha thiết với cuộc sống quê nhà của nhà thơ Nguyễn Trãi. - Nhà thơ đã cảm nhận cái tinh tế, thú vị của ngày hè qua thị giác và thính giác: + Nhà thơ nhìn những tán lá xanh cây hòe, màu đỏ rực của thạch lựu, tiếng ve kêu ran cả khoảng không gian và hình ảnh người dân làng chài mỗi sớm thức dậy và bóng người kéo lưới buổi chiều ta. + Ngày hè cảm nhận qua thính giác khi nhà thơ thấy được hương sen thoảng theo gió -> Tâm hồn nhà thơ Nguyễn Trãi được hòa vào thiên nhiên, nói lên được tác giả là người rất yêu đời, yêu cuộc sống. - Tình yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi: + “Dẽ” là từ cổ nghĩa là lẽ, lẽ ra + “Ngu cầm” là cây đàn của vua Nghiêu vua Thuấn. Đây là điển cố quen thuộc của Trung Hoa kể về thời đại Nghiêu Thuấn – những ông vua nhân từ đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho
- nhân dân. Hằng ngày vua Nghiêu Thuấn thường đem đàn ra gảy khúc nam phong ngợi ca cảnh thái bình trên xứ sở này -> Thể hiện ước muốn có được cây đàn để ca ngợi khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp và cuộc sống vui tươi trên quê hương ông, niềm vui sướng, hạnh phúc của tác giả khi được sống hòa hợp cùng thôn quê. + Câu thơ cuối cùng thể hiện rõ ràng, cụ thể ước mơ được thấy cảnh thanh bình, ấm no trên đất nước. => Nguyễn Trãi dù sống trong cảnh thanh nhàn nhưng vẫn nặng lòng với dân với nước. Ông ước mơ về cuộc sống no đủ, ấm áp sung túc không chỉ trên quê hương ông mà còn trải khắp đất nước. - Nghệ thuật: + Giọng điệu trữ tình, sâu lắng, bút pháp tả sinh động + Thể thơ sáng tạo thất ngôn xen lục ngôn + Ngôn ngữ thơ phong phú, đa dạng vừa có lớp từ Hán Việt vừa có lớp từ thuần Việt tạo nên vẻ đẹp vừa trang trọng vừa bình dị + Sử dụng các điển tích, điển cố * Kết bài - Khái quát lại vấn đề phân tích: Nhấn mạnh lại tình yêu thiên nhiên của tác giả đồng ca ngợi đức tính tốt đẹp của bậc thi nhân dù xin cáo quan về ở ẩn nhưng vẫn một lòng lo cho sự nghiệp chung đất nước. Tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước sâu sắc của nhà thơ Nguyễn Trãi. 8. ĐỌC TIỂU THANH KÍ (Nguyễn Du) 1.Tìm hiểu chung - Bài thơ chữ Hán tiêu biểu cho tài năng nghệ thuật và tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du 2. Đọc - hiểu văn bản a. Nội dung - Hai câu đề: Niềm tiếc thương của tác giả trước lẽ “biến thiên dâu bể” của cuộc đời và niềm thổn thức của một tấm lòng nhân đạo lớn: vạn vật đổi thay, Tiểu Thanh bị vùi lấp trong quên lãng nhưng nhà thơ đã nhớ và viếng nàng qua “ nhất chỉ thư”. - Hai câu thực: Nỗi xót xa cho một kiếp tài hoa bạc mệnh; gợi nhớ lại cuộc đời, số phận bi thương của Tiểu Thanh: tài hoa, nhan sắc hơn người nên bị đố kị, phải làm lẽ và bị đày ải đến chết vẫn không được buông tha. - Hai câu luận: Niềm cảm thông đối với những kiếp hồng nhan, những người tài hoa bạc mệnh. Từ số phận của Tiểu Thanh, Nguyễn Du khái quát về quy luật nghiệt ngã “ tài mệnh tương đố”, “hồng nhan bạc phận” và tự nhận thấy mình cũng là kẻ cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh, là nạn nhân của nỗi oan khiên lạ lùng, bộc lộ mối đồng cảm sâu xa. - Hai câu kết: Tiếng khóc của nhà thơ dành cho Tiểu Thanh và cũng là tiếng khóc thương cho chính mình, lòng khao khát tri âm. Khóc Tiểu Thanh, Nguyễn Du “ trông người lại nghĩ đến ta” và hướng về hậu thế tỏ bày nỗi khao khát tri âm của mọi kiếp người tài hoa mà phải chịu đau khổ trên đời. b. Nghệ thuật - Sử dụng tài tình phép đối và khả năng thống nhất những mặt đối lập trong hình ảnh, ngôn từ. - Ngôn ngữ trữ tình đậm chất triết lí c. Ý nghĩa văn bản
- - Niềm cảm thương mà Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh và tâm sự khao khát tri âm hướng về hậu thế; vẻ đẹp của chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Du d. Đề luyện tập Phân tích bài thơ "Đọc Tiểu Thanh kí" của Nguyễn Du * Mở bài - Giới thiệu vài nét về Nguyễn Du: Nguyễn Du (1765 - 1820) là đại thi hào của dân tộc Việt Nam với tài năng kiệt xuất, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của dân tộc. Sự nghiệp sáng tác của ông gồm những tác phẩm có giá trị cả chữ Hán và chữ Nôm. - Giới thiệu về “Đọc Tiểu Thanh kí” (Độc Tiểu Thanh kí): "Đọc Tiểu Thanh kí" là một trong số những sáng tác bằng chữ Hán tiêu biểu của Nguyễn Du, thể hiện cảm xúc, suy tư và tiếng nói đồng cảm của ông về số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. *Thân bài Tìm hiểu khái quát về cuộc đời nàng Tiểu Thanh - Tiểu Thanh là người con gái có thật, sống cách Nguyễn Du 300 năm trước ở đời Minh (Trung Hoa), là người rất thông minh và nhiều tài nghệ. - Tuy có tài sắc vẹn toàn nhưng phải chịu số phận làm lẽ cô đơn, bất hạnh, hẩm hiu. - Nàng bị vợ cả ghen, đày ra sống ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ côi cút một mình. - Trước khi lâm bệnh mất vì buồn rầu năm 18 tuổi, nàng có để lại một tập thơ sau bị vợ cả đốt, hiện chỉ còn sót lại một số bài được tập hợp trong "phần dư". => Tiểu Thanh là người con gái tài sắc, bạc mệnh. Hai câu đề "Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư Độc điếu song tiền nhất chỉ thư" (Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang Thổn thức bên song mảnh giấy tàn) - Hình ảnh thơ đối lập giữ quá khứ và hiện tại: Tây Hồ hoa uyển(vườn hoa bên Tây Hồ) – thành khư (gò hoang) - Động từ “tẫn”: đến cùng, triệt để, hết → Câu thơ gợi ra một nghịch cảnh giữa quá khứ và hiện tại: Vườn hoa bên Tây Hồ nay đã thành bãi đất hoang rồi. Từ đó, gợi sự xót xa trước sự đổi thay, sự tàn phá của thời gian đối với cái đẹp. - Cách sử dụng từ ngữ: độc điếu (một mình viếng) – nhất chỉ thư (một tập sách). → Nguyễn Du như muốn nhấn mạnh sự cô đơn nhưng cũng nhấn mạnh cả sự tương xứng trong cuộc gặp gỡ này. Một trạng thái cô đơn gặp một kiếp cô đơn bất hạnh ⇒ Hai câu thơ diễn tả tâm trạng của Nguyễn Du trước cảnh hoang tàn, đó cũng chính là nỗi niềm xót xa, tiếc nuối cho số phận của nàng Tiểu Thanh. Hai câu thực Chi phấn hữu thần liên tử hậu Văn chương vô mệnh lụy phần dư (Son phấn có thần chôn vẫn hận Văn chương không mệnh đốt còn vương) - Hình ảnh: + Son phấn: tượng trưng cho vẻ đẹp, sắc đẹp của người phụ nữ + Văn chương: tượng trưng cho tài năng. - Từ ngữ diễn tả cảm xúc: hận, vương
- - “Chôn”, “đốt” là những động từ cụ thể hóa sự ghen ghét, sự vùi dập phũ phàng của người vợ cả đối với nàng Tiểu Thanh ⇒ thái độ của xã hội phong kiến không chấp nhận những con người tài sắc. → Triết lí về số phận con người trong xã hội phong kiến: tài hoa bạc mệnh, tài mệnh tương đố, hồng nhan đa truân cái tài, cái đẹp thường bị vùi dập. → Hai câu thơ cực tả nỗi đau về số phận bất hạnh của nàng Tiểu Thanh đồng thời cũng là tấm lòng trân trọng, ngợi ca nhan sắc và đề cao tài năng trí tuệ của Tiểu Thanh; đồng thời có sức tố cáo mạnh mẽ. Hai câu luận Cổ kim hận sự thiên nan vấn Phong vận kỳ oan ngã tự cư (Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi Cái án phong lưu khách tự mang) - “Cổ kim hận sự”: mối hận xưa và nay, mối hận muôn đời, mối hận truyền kiếp. Đó chính là mối hận của những người tài hoa mà bạc mệnh. - "Thiên nan vấn": khó mà hỏi trời được. → Câu thơ mang tính khái quát cao. Nỗi hận kia không phải là nỗi hận của riêng nàng Tiểu Thanh, của Nguyễn Du mà của tất cả những người tài hoa trong xã hội phong kiến. Câu thơ thể hiện sự đau đớn phẫn uất cao độ trước một thực tế vô lí: người có sắc thì bất hạnh, nghệ sĩ có tài thường cô độc. - Kì oan: nỗi oan lạ lùng - Ngã: ta (từ chỉ bản thể cá nhân táo bạo so với thời đại Nguyễn Du sống). Nguyễn Du không đứng bên ngoài mà nhìn vào nữa mà giờ đây ông chủ động tìm sự tri âm với nàng, với những người tài hoa bạc mệnh. ⇒ Nguyễn Du không chỉ thương xót cho nàng Tiểu Thanh mà còn bàn ra tới nỗi hận của muôn người, muôn đời trong đó có bản thân nhà thơ. Qua đó, thể hiện sự cảm thông sâu sâu sắc đối với người con gái tài sắc Tiểu Thanh. Hai câu kết Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa Người đời ai khóc Tố Như chăng?) - Nghệ thuật: Câu hỏi tu từ. Nguyễn Du khóc nàng Tiểu Thanh và băn khoăn, khóc cho chính mình. - “Khấp”: khóc. Tiếng khóc là dấu hiệu mãnh liệt nhất của tình cảm, cảm xúc thương thân mình, thân người trào lên mãnh liệt không kìm nén được. Ông không viết đơn thuần mà khóc cho Tiểu Thanh. Ông băn khoăn không biết hậu thế ai sẽ khóc ông. → Thể hiện nỗi cô đơn của nghệ sĩ lớn “Tiếng chim cô lẻ giữa trời thu khuya” (Xuân Diệu). Ông thấy mình lạc lõng ở hiện tại và đã tìm thấy được một người tri kỉ ở quá khứ nhưng vẫn mong ngóng một tấm lòng trong tương lai. ⇒ Tấm lòng nhân đạo mênh mông vượt qua mọi không gian và thời gian. *Kết bài Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản: Thể hiện cảm xúc, suy tư của Nguyễn Du về số phận bất hạnh của người phụ nữ có tài có sắc trong xã hội phong kiến. Chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc trong sáng tác của Nguyễn Du
- PHẦN II: ĐỀ BÀI THAM KHẢO I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc bài ca dao: Hôm qua tát nước đầu đình, Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen. Em được thì cho anh xin, Hay là em để làm tin trong nhà? Áo anh sứt chỉ đường tà, Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu, Áo anh sứt chỉ đã lâu, Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng. Khâu rồi anh sẽ trả công, Đến lúc lấy chồng, anh sẽ giúp cho, Giúp em một thúng xôi vò Một con lợn béo, một vò rượu tăm, Giúp cho đôi chiếu em nằm, Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo, Giúp cho quan tám tiền cheo, Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau. (Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan, NXB Văn học, 2005, tr. 271) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định thể thơ của bài ca dao. Câu 2. Chàng trai trong bài ca dao bỏ quên áo trong hoàn cảnh nào? Câu 3. Theo lời chàng trai trong bài ca dao, hoàn cảnh gia đình của anh như thế nào? Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về từ “cô ấy” được chàng trai nói đến câu “Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng”? Câu 5. Những lễ vật mà chàng trai hứa trả công cho người khâu áo giúp anh có ý nghĩa gì? Câu 6. Anh/Chị có nhận xét gì về cách bày tỏ tình cảm của chàng trai trong bài ca dao? II. LÀM VĂN (6,0 điểm) Trình bày cảm nhận của anh/chị về bài thơ sau: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao. Rượu, đến cội cây ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. (Theo Ngữ văn 10, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 129) ----------------HẾT -------------- GỢI Ý
- Phầ Câu Nội dung Điểm n I ĐỌC HIỂU 4,0 1 Thể thơ: lục bát 0,5 Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như Đáp án: 0,5 điểm. - Học sinh trả lời không đúng thể thơ: không cho điểm. 2 Chàng trai trong bài ca dao bỏ quên áo trong hoàn cảnh: hôm qua 0,5 tát nước đầu đình. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như Đáp án: 0,5 điểm. - Học sinh trả lời “hôm qua” hoặc “tát nước”/ “tát nước đầu đình”: 0,25 điểm. 3 Hoàn cảnh gia đình của chàng trai: chưa có vợ, nhà có mẹ già. 0,5 Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như Đáp án: 0,5 điểm. - Học sinh trả lời 01 trong 02 ý của Đáp án hoặc chép nguyên văn câu thơ “vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu”: 0,25 điểm. 4 Từ “cô ấy”: 0,75 - “Cô ấy” thực chất để chỉ “em”. - Cách gọi lấp lửng thể hiện sự ý nhị, khéo léo của chàng trai. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như đáp án: 0,75 điểm - Học sinh trả lời 01 trong 02 ý của đáp án: 0,5 điểm 5 - Những lễ vật hứa trả công cho người giúp khâu áo là đồ sính lễ/ 0,75 lễ vật cho đám cưới. - Ý nghĩa: thể hiện sự trân trọng cô gái; mong muốn được kết duyên với cô gái của chàng trai. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như đáp án: 0,75 điểm - Học sinh trả lời 01 trong 02 ý của đáp án: 0,5 điểm 6 - Học sinh nhận xét về cách tỏ tình của chàng trai: khéo léo, tế 1,0 nhị, hóm hỉnh, chân thành Hướng dẫn chấm: - Trình bày thuyết phục: 1,0 điểm. - Trình bày chung chung: 0,5 điểm-0,75 điểm. - Trình bày thiếu thuyết phục: 0,25 điểm. II LÀM VĂN Trình bày cảm nhận của anh/chị về bài thơ Nhàn của Nguyễn 6,0 Bỉnh Khiêm a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,5 Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề
- b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,5 Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm Hướng dẫn chấm: - Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm. - Học sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau: * Giới thiệu tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm, tác phẩm Nhàn. 0,5 Hướng dẫn chấm: - Giới thiệu tác giả: 0.25 điểm - Giới thiệu tác phẩm: 0.25 điểm * Bài thơ thể hiện quan niệm, lối sống nhàn dật của người ẩn sĩ 2,5 với những biểu hiện sau: - Nhàn là vui với thú điền viên (một mai, một cuốc, một cần câu), mặc cho “ai vui thú nào”. - Nhàn là nhận dại về mình, nhường khôn cho người, tìm về chốn thôn quê thanh vắng, đứng ngoài vòng danh lợi để được sống tự do, tự tại. - Nhàn là thoải mái tận hưởng những thứ có sẵn ở chốn thôn quê, thuận theo lẽ tự nhiên mà không cần mưu cầu, tranh đoạt, coi phú quý như chiêm bao. * Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn, ngôn từ giản dị, nhịp điệu khoan thai, hình ảnh, chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng... Hướng dẫn chấm: - Trình bày đầy đủ, sâu sắc: 2,5 điểm - Trình bày chưa đầy đủ hoặc chưa sâu sắc: 2,25 điểm - 1,25 điểm. - Trình bày chung chung, chưa rõ: 0,25 điểm – 1,0 điểm |* Đánh giá: 0,5 Bài thơ bộc lộ thái độ coi thường danh lợi trong hoàn cảnh chế độ phong kiến suy vi; thể hiện nhân cách cao, tài năng thi ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hướng dẫn chấm: - Đáp ứng được 1 yêu cầu: 0,25 điểm. d. Chính tả, ngữ pháp 0,5 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. e. Sáng tạo: vận dụng lí luận văn học trong quá trình phân tích, 1,0 đánh giá; biết so sánh với các tác phẩm khác để làm nổi bật nét đặc sắc; biết liên hệ vấn đề nghị luận với thực tiễn đời sống; văn
- viết giàu hình ảnh, cảm xúc. Hướng dẫn chấm + Đáp ứng được 3 yêu cầu trở lên: 1,0 điểm. + Đáp ứng được 2 yêu cầu: 0,75 điểm. + Đáp ứng được 1 yêu cầu: 0,5 điểm. Tổng điểm 10,0 -----------------Hết-----------------

